Chuyện tiền tệ và ruộng đất triều Hồ Quý Ly

(Góc nhìn văn hóa) - Hồ Quý Ly ở ngôi vua (1400 – 1401), sau làm Thái Thượng Hoàng (1401 – 1407).

Chuyen tien te va ruong dat trieu Ho Quy Ly
Hình vẽ minh họa Hồ Quý Ly bên thành Tây Đô ở Thanh Hóa ngày nay.

Rút kinh nghiệm từ nhà Lý, nhà Trần không kết hôn với người ngoại tộc. Nhưng cuối cùng, vua Trần Minh Tông vẫn lấy hai người cô ruột của Hồ Quý Ly. Một bà sinh ra vua Trần Nghệ Tông, một bà sinh ra vua Trần Duệ Tông. Chính vì thế, khi Trần Nghệ Tông lên ngôi, ông giành được tín nhiệm cao.

Và câu chuyện huyền thoại về Hồ Quý Ly, được Chử Nhân Hoạch đời nhà Thanh chép trong ‘’Kiên Biểu Tập’’, sau được Lê Quý Đông dẫn lại trong ‘’Kiến Văn Tiểu Lục’’:

Thanh Thử điện tiền thiên thụ quế
Quảng Hàn cung lý nhất chi mai

(Ngàn gốc quế trước điện Thanh Thử
Một cành mai trong cung Quảng Hàn)

Câu chuyện đó bắt đầu. Cũng có thể câu chuyện đó chỉ là huyền thoại, để định mệnh hóa sự xuất hiện của nhân vật Hồ Quý Ly giữa triều Trần, vốn luôn lo lắng vương quyền lọt vào tay người ngoài.

Chuyen tien te va ruong dat trieu Ho Quy Ly
Hình vẽ minh họa chế tạo súng thần công thời Hồ Quý Ly.

Chuyện tiền tệ.

‘’Trên thực tế, những năm cuối cùng của thế kỷ XIV, vương triều Trần đã thực sự suy yếu, quyền hình tập trung trong tay cha con Hồ Quý Ly. Ngay khi còn ở cương vị phụ chính cho vua Trần, Hồ Quý Ly đã tiến hành một loạt  những cải cách trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục nhằm củng cố chế độ quân chủ tập quyền, khắc phục những khủng hoảng kinh tế, xã hội. Trên lĩnh vực tài chính tiền tệ, Hồ Quý Ly cho thu hồi tiền đồng và ban hành tiền giấy’’ (Thăng Long Hà Nội một nghìn sự kiện lịch sử, Vũ Văn Quân chủ biên, Nxb Hà Nội, 2007, trang 115).

Chuyen tien te va ruong dat trieu Ho Quy Ly
Bản vẽ tiền giấy Thông Bảo Hội Sao cuối thế kỷ XIV.

Tờ tiền mới được ban hành có tên là Thông Bảo Hội Sao, gồm 7 loại. Hình thức của tờ tiền mới được quy định: tờ 10 đồng vẽ hình rồng, 30 đồng vẽ sóng, 1 tiền vẽ mây, 2 tiền vẽ rùa, 3 tiền vẽ lân, 5 tiền vẽ phượng, và tờ 1 quan vẽ rồng.

Triều đình quy định, cứ 1 quan tiền (bằng) đồng nay đổi được 1 quan 2 tiền giấy. Tuyệt đối cấm làm tiền giả, trái lệnh sẽ bị xử chết, tịch thu ruộng đất và gia sản.

Đối với tiền (bằng) đồng cũ, triều đình ra lệnh thu hồi toàn bộ, tập trung về kho Ngao Trì ở kinh thành và trị sở các sứ. Dân gian tuyệt nhiên không được cất giữ, tiêu vụng tiền (bằng) đồng. Kẻ nào trái lệnh sẽ bị xử như với tội làm tiền giả.

Chuyen tien te va ruong dat trieu Ho Quy Ly
Tiền Thánh Nguyên Thông Bảo bằng đồng cuối thế kỷ XIV.

Chuyện tiền giấy sau này nhiều học giả khen là sáng tạo cải cách của Hồ Quý Ly. Nhưng thực ra chính sách phát hành tiền giấy đã được nhà Tống áp dụng từ 3 thế kỷ trước đó.

Vấn đề là nhà Tống đã nhận ra những nhược điểm của tiền giấy vào thời kỳ đó như dễ làm giả, người dân không tin tưởng, nên không áp dụng với quy mô lớn, và phần lớn tiền tệ của nhà Tống vẫn là tiền đồng.

Sau này nhà Nguyên kế tiếp nhà Tống, thời Nguyên Vũ Tông (1307 – 1311), do bị thiếu hụt ngân khố nên đã hạ lệnh in rất nhiều tiền giấy, kết quả là tiền giấy bị mất giá trị nghiêm trọng, đời sống nhân dân xáo trộn.

Trên thực tế, cuộc cải cách tiền tệ của Hồ Quý Ly ở Đại Ngu (tức Việt Nam) ra sao?

Việc dùng tiền giấy không được sự ủng hộ của dân chúng và Hồ Quý Ly đã thất bại trong cuộc cải cách tiền tệ này. Thực tế, đến năm 1403, tức sau bảy năm ban hành, tiền giấy vẫn không được ưa dùng.

Và do nhà nước cấm tiền (bằng) đồng, nhân dân buộc phải trao đổi theo hình thức hàng đổi hàng. Nhà nước đã phải định giá tiền giấy cho trao đổi, lập điều luật định tội (nếu) không tiêu tiền giấy.

Lý do là tiền Thông Bảo Hội Sao của triều đình lúc đó rất dễ làm giả. Ngoài ra, mực in tiền thời đó cũng không bền, chỉ cần dính mưa, dính nước là nhòe không tiêu được nữa, người chủ coi như mất tài sản.

Như vậy việc dùng tiền giấy thời đó đã đi ngược nguyên tắc phát hành tiền tệ. Đó là phải có đủ cơ sở để nhân dân tin tưởng vào giá trị giao dịch của đồng tiền.

Một lượng lớn tiền giả được tung ra, tất yếu dẫn tới việc tiền giấy bị mất giá, mà ngày nay ta gọi là lạm phát. Ngoài ra, triều đình lạm dụng việc in tiền giấy để bù đắp thiếu hụt ngân khố, thì lạm phát càng nghiêm trọng.

Phan Huy Chú bình trong sách ‘’Lịch triều hiến chương loại chí’’:

‘’Tiền giấy chẳng qua chỉ là mảnh giấy vuông, phí tổn chỉ đáng 5, 3 đồng tiền mà đổi lấy vật đáng 5, 6 trăm đồng của người ta, có nhiên không phải là cái đạo đúng mức.

Vả lại, người có tiền giấy cất giữ cũng dễ rách nát, mà kẻ làm giả mạo sinh ra không cùng, thực không phải là cách bình ổn vật giá mà lưu thông của cải vậy.

Quý Ly không xét kỹ đến cái gốc lợi hại, chỉ ham chuộng hư danh sáng chế, để cho tiền của hàng hóa thường vẫn lưu thông tức là sinh ra ứ đọng, khiến dân nghe thấy đã sợ, thêm mối xôn xao, thế có phải chế độ bình trị đâu…’’ (Lịch triều hiến chương loại chí, tập 2, Nxb Giáo dục, 2007, trang 112).


Những bài học về tiền giấy thời nhà Tống và Nguyên (đã nói ở trên) lại lặp lại ở thời cuối triều Trần, và thời Đại Ngu Hồ Quý Ly. Tiền giấy và hệ lụy như thiếu niềm tin, lạm phát, không bền… đã làm giảm buôn bán thương mại, trao đổi hàng hóa, giảm tài sản tích lũy trong xã hội, triều đình chi tiêu quá mức… khiến quốc gia suy yếu nghiêm trọng về nội lực.

Chuyen tien te va ruong dat trieu Ho Quy Ly
Dấu tích Thành nhà Hồ còn lại ở xã Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.

Chuyện ruộng đất.

Cuối thế kỷ XIV, nhà Trần đẩy mạnh chính sách ban cấp ruộng đất, cho lập thái ấp, điền trang, bán ruộng công thành ruộng tư, tự do buôn bán ruộng đất…

Nhiều học giả cho rằng ‘’vô hình chung nhà Trần đã khuyến khích xu hướng tư hữu hóa và tập trung hóa ruộng đất cao độ. Hậu quả nhãn tiền của chính sách ấy là làm suy yếu tiềm lực nhà nước, đe dọa nghiêm trọng đến thể chế tập quyền trung ương, là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội cuối thế kỷ XIV’’. (Thăng Long Hà Nội một nghìn sự kiện lịch sử, Vũ Văn Quân chủ biên, Nxb Hà Nội, 2007, trang 117).

Với nhận định này, chúng tôi cần nhắc lại. Triều nhà Trần, từ khi mới lên thay nhà Lý, đã tiến hành phong Vương, cho lập Thái Ấp đối với các Hoàng Thân Quốc Thích. Họ thậm chí được tích lũy lương thảo, và có cả nhưng đội quân riêng.

Binh lính trong các đội quân ở các phủ các lộ, thời bình thì tham gia sản xuất, thời chiến thì thành đội ngũ đánh giặc, với lương thực và khí giới tại chỗ.

Với nhân dân, triều đình khuyến khích khai hoang đất đai, và cho sở hữu để làm ra của cải. Chính sách đó đã trở thành truyền thống của nhà Trần, và đã tạo ra sức mạnh của Đại Việt trong ba lần đánh giặc Nguyên.

Chuyen tien te va ruong dat trieu Ho Quy Ly
Giếng Vua, di tích Đàn Giao ở Thanh Hóa, nơi nhà Hồ thực hiện nghi lễ Tế Giao, nghi lễ chỉ dành cho Thiên Tử.

Khi nắm quyền, Hồ Quý Ly ban hành phép hạn điền. Theo đó, trừ tước Đại Vương và Trưởng Công Chúa được sở hữu không hạn chế số ruộng đất, tất cả số còn lại, từ quý tộc đến thứ dân, đều chỉ được sở hữu không quá 10 mẫu. Số ruộng thừa phải hiến cho nhà nước. Người bị tội có thể được phép lấy ruộng tư để chuộc tội.

Năm 1398, Hồ Quý Ly cho quan lại về các địa phương làm lại sổ ruộng đất. Ai có ruộng tư phải kê khai rõ ràng, và cắm thẻ mang tên mình trên ruộng. Lại lệnh cho 5 năm phải làm xong sổ sách. Ruộng không người nhận phải sung công nhà nước.

Phép hạn điền đã tấn công mạnh vào thế lực của tầng lớp quý tộc điền trang, địa chủ. Ngoài ra chính sách đó đã chặn đứng xu hướng phát triển tự nhiên của thị trường  ruộng đất.

Có thể, không phải Hồ Quý Ly không nhận ra chính sách ruộng đất trước đó đã tạo nên sức mạnh của triều đình qua lịch sử chống giặc Nguyên, nhưng ông vẫn tiến hành ‘’Phép hạn điền’’ để giảm sức mạnh của tôn thất quý tộc nhà Trần. Bởi trước khi lên ngôi vào năm 1400, đã từng có nhiều lần quý tộc nhà Trần muốn lật đổ ông.

Nhưng một lần nữa, chính sách này lại góp phần làm suy yếu tiềm lực triều đình như chính sách tiền tệ, và hình thành nên sự bất mãn cao trong xã hội.

Bên cạnh việc lên ngôi không được chính danh, chính sách kinh tế sai lầm, xây thành Tây Đô (tức thành nhà Hồ ở huyện Vĩnh Lộc ngày nay) tốn kém, chiến tranh với Chiêm Thành liên miên… kết cục là nước Đại Ngu của Hồ Quý Ly đã rơi vào tay giặc Minh, với 20 năm mất nước.

Chỉ sau đó một thế hệ, Nguyễn Trãi đã nhận xét rằng:

''Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
Để trong nước lòng dân oán hận…''

(Bình Ngô Đại Cáo) 

Hàn Thủy Giang.

Thứ Bảy, 02/05/2020 16:13

Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện