Tháng 2/1979: Quân chủ lực Việt Nam chưa cần tham chiến

(Quan hệ quốc tế) - Việt Nam chỉ tung chủ lực lên biên giới khi Trung Quốc tuyên bố rút quân là muốn họ được rút lui trong danh dự, không muốn leo thang chiến tranh.

Quân chủ lực Việt Nam chưa tham chiến

Trong những kỳ trước chúng ta đã biết rằng, vào thời điểm Trung Quốc nổ súng xâm lược nước ta vào tháng 2/1979, 3 trong số 4 Quân đoàn chính quy của ta đang tập trung ở khu vực phía Nam, nên trên tuyến phòng thủ ở biên giới với Trung Quốc chỉ có một số sư đoàn chủ lực (phần lớn là tân binh) của Quân khu 1 và Quân khu 2; cùng các đơn vị bộ đội biên phòng, bộ đội địa phương tỉnh, huyện; công an vũ trang (biên phòng), du kích xã và dân quân/tự vệ các nông trường, công trường, nhà máy/xí nghiệp.

Tổng lực lượng của chúng ta lúc đó chỉ có khoảng 70 nghìn người phải đối phó với lực lượng hùng hậu gồm 320 nghìn quân chính quy và 300 nghìn dân binh của Trung Quốc.

Để tăng cường cho lực lượng phòng thủ biên giới, Bộ Quốc phòng đã quyết định tăng viện lên biên giới lực lượng của các Quân khu tuyến sau như sư đoàn bộ binh 327 Quân khu 3 từ Quảng Ninh lên lên chi viện cho Quân khu 1; sư đoàn 337 của Quân khu 4 cũng từ Nghệ An lên tiếp sức cho Quân khu 1, đảm nhận trách nhiệm phòng thủ trên 2 hướng tiến công chính của Quân đội TQ là Cao Bằng và Lạng Sơn.

Ngày 25/2, Quân đoàn 14 thuộc Quân khu 1, Quân đội Nhân dân Việt Nam cùng Bộ chỉ huy thống nhất Lạng Sơn được thành lập tại Mai Sao, lực lượng bao gồm các Sư đoàn 3, 327, 338, 337 và sau này có thêm Sư đoàn 347 cùng các đơn vị trực thuộc khác.

Thang 2/1979: Quan chu luc Viet Nam chua can tham chien
Lực lượng bộ đội Việt Nam hành quân lên biên giới năm 1979

Bắt đầu từ ngày hôm đó, các đơn vị này đều được triển khai phòng thủ tại điểm nóng nhất lúc này là mặt trận Lạng Sơn (trừ sư 337 đang từ Quân khu 4 ra, mãi đến ngày 2/3 mới triển khai xong đội hình ở khu vực cầu Khánh Khê).

Bộ Quốc phòng còn tăng viện thêm Trung đoàn pháo phản lực 204 (có một tiểu đoàn pháo phản lực BM/21 vừa được Liên Xô viện trợ) Trung đoàn đặc công 198, Trung đoàn 98 thuộc Sư đoàn công binh 473, Lữ đoàn công binh 229 (đoàn Sông Đà), đơn vị súng phun lửa của Trung đoàn phòng hóa 86…, cho chiến trường Lạng Sơn.

Ngoài ra, Quân khu 1 thành lập thêm các đơn vị mới như Sư đoàn bộ binh 311 trên cơ sở Trung đoàn 38 Sư đoàn 473, được tuyển lựa thêm tân binh mới gia nhập quân ngũ và những cựu binh chiến tranh chống Mỹ vừa tái ngũ, đồng thời Quân khu cũng chủ động điều lực lượng dự bị tăng cường cho các hướng.

Tính chung, tổng cộng 2 sư đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn đặc công, 2 tiểu đoàn pháo tầm xa và 25 tiểu đoàn dự nhiệm cùng nhiều đơn vị binh chủng và dân quân tự vệ các địa phương của Quân khu 1, 2, 3, 4 và Thủ đô Hà Nội đã được điều động điều động lên biên giới.

Tuy nhiên, tất cả những lực lượng tăng viện đều là lực lượng bộ đội cùa các quân khu, không phải là lực lượng bộ đội chủ lực của các Quân đoàn chính quy. Mãi đến hết giai đoạn 2, các đơn vị chủ lực mới bắt đầu triển khai trên các địa bàn đứng chân ở biên giới.

Hết giai đoạn 2, Việt Nam mới điều quân chủ lực

Khi Trung Quốc nổ súng xâm lược, lực lượng chủ lực duy nhất ở ngoài bắc là Quân đoàn 1 triển khai lực lượng xây dựng một phòng tuyến bảo vệ thủ đô Hà Nội, chuẩn bị cho tình huống xấu nhất là Trung Quốc đột phá qua tuyến phòng thủ biên giới, tiến sâu xuống vùng châu thổ sông Hồng hoặc nhảy dù xuống Đồng bằng, chia cắt tiền tuyến với hậu phương.

Thang 2/1979: Quan chu luc Viet Nam chua can tham chien
Máy bay vận chuyển vũ khí, trang bị và hàng hóa chi viện cho biên giới

Đến giai đoạn 2 của cuộc chiến, Việt Nam đã quyết định tung lực lượng chủ lực tham chiến; nhưng vì nhiều lí do, mãi đến khi quân Trung Quốc sắp rút về nước hoặc đã rút về nước thì lực lượng chủ lực của các quân đoàn chính quy mới được triển khai lên biên giới.

Quân đoàn 2 (Binh đoàn Hương Giang) - lực lượng chủ lực của Bộ quốc phòng, đang làm nhiệm vụ tại Campuchia và mặt trận biên giới Tây Nam ngày 27/2 được lệnh cơ động gấp toàn bộ lực lượng về nước, hành quân ra miền bắc, lên mặt trận biên giới tăng viện để quét sạch quân Trung Quốc.

Từ ngày 06/03, trực thăng và máy bay vận tải của Trung đoàn không quân 916 (đoàn Ba Vì), Đoàn 918 và Đoàn 919 Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam cũng phối hợp với không quân Liên Xô, khẩn trương tập kết và vận chuyển Quân đoàn 2 từ mặt trận biên giới Tây Nam lên biên giới phía Bắc.

Tuy nhiên, cũng chỉ có một phần lực lượng đi bằng đường không, còn lại phần lớn lực lượng và trang bị nặng như xe tăng phải đi bằng bằng đường bộ, tàu hỏa và đường biển về Sài Gòn rồi ra Hải Phòng nên mãi đến ngày 11/3 những đơn vị đầu tiên của quân đoàn gồm Sư đoàn bộ binh 304 (đoàn Vinh Quang), Lữ đoàn pháo binh 164 (đoàn Bến Hải), Lữ đoàn phòng không 673, tiểu đoàn trinh sát… mới về tới Hà Nội. Ngay sau đó, các đơn vị này lại cấp tốc lên biên giới.

Về phía Quân đoàn 1 (tức Binh đoàn Quyết Thắng), vào ngày 03/3, Bộ Quốc phòng đã quyết định sử dụng đến các đơn vị chủ lực cơ động chiến lược của Quân đoàn để chi viện cho chiến trường nóng nhất là Lạng Sơn.

Ngày 03/3, Quân đoàn 1 được lệnh điều động Sư bộ binh 320B được tăng cường Trung đoàn bộ binh 209 (đoàn Sông Lô) của Sư đoàn bộ binh 312 (đoàn Chiến Thắng) và tiểu đoàn pháo tầm xa 130mm của Lữ đoàn pháo binh 45 (đoàn Tất Thắng) cấp tốc hành quân lên Lạng Sơn. Tối 04/3, các đơn vị này đã triển khai sẵn sàng trên tuyến chiến đấu Chi Lăng - Đồng Mỏ - Hữu Kiên.

Thang 2/1979: Quan chu luc Viet Nam chua can tham chien
Khi lực lượng chủ lực Việt Nam chưa tham chiến, Bộ đội Địa phương, Công an Vũ trang, Bộ đội biên phòng là lực lượng chủ lực bảo vệ biên giới

Theo dự kiến ban đầu, hai sư đoàn 320B và 304 sẽ phối hợp phản công trên hướng Bản Chắt (Đình Lập) nhưng chiến dịch hiệp đồng của 2 sự đoàn này đã bị hủy bỏ do sư 304 về muộn và quân đội Trung Quốc đã rút chạy, ngay sau khi Lệnh tổng động viên toàn quốc để quét sạch bè lũ xâm lăng của Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng được công bố vào ngày hôm sau - 05/3.

Như vậy, lực lượng chủ lực của chúng ta chưa kịp tham chiến thì Trung Quốc tuyên bố rút quân. Một bộ phận của Sư đoàn 304 chỉ kịp tham gia đánh địch tại Trà Lĩnh (Cao Bằng), còn các sư đoàn 337, 338 cũng đã triển khai các trận truy kích tàn quân Trung Quốc rút lui qua ngả Chi Mã.

Vì sao Việt Nam chưa sử dụng đến quân chủ lực??

Vấn đề quân chủ lực Việt Nam “chưa” [chứ không phải là “không”] tham chiến trong 2 giai đoạn đầu không thể chỉ được nhìn dưới góc độ quân sự, mà nó còn phải được xem xét dưới lăng kính chính trị.

Mặc dù đã huy động đến 620.000 quân thuộc các Quân đoàn chính quy nhưng Bắc Kinh tuyên bố cuộc chiến tháng 02/1979 là cuộc “Chiến tranh Phản kích Tự vệ” và sẽ rút quân sau khi đạt được mục đích này vào ngày 05/03.

Thang 2/1979: Quan chu luc Viet Nam chua can tham chien
Nếu chủ lực Việt Nam tham chiến từ đầu, Trung Quốc sẽ thất bại nặng nề hơn

Như vậy, Trung Quốc công bố trước cộng đồng quốc tế đây là cuộc chiến mang tính chất “xung đột biên giới”, không có sự tham gia của quân chủ lực và lực lượng hải quân, không quân; mà chỉ có lực lượng quân địa phương, biên phòng, dân binh…; cuộc chiến sẽ chỉ giới hạn trong khu vực biên giới.

Về phần Việt Nam, chúng ta vừa trải qua 30 năm chiến tranh liên tục (từ năm 1945-1975) với 2 cường quốc là Pháp và Mỹ. Nếu sử dụng đến lực lượng chủ lực, Việt Nam có thể nhanh chóng đập tan sự tấn công của Trung Quốc ngay trong đợt đầu, nhưng điều đó rất có thể sẽ làm leo thang cuộc chiến hơn là chấm dứt một cuộc chiến tranh.

Việt Nam không sợ bất cứ kẻ xâm lược nào nhưng hiểu được cái giá của một cuộc chiến lâu dài và khốc liệt, do đó, chúng ta cũng không sử dụng đến lực lượng chủ lực thiện chiến của mình [đây cũng là lí do Việt Nam không sử dụng đến lực lượng Không quân cực mạnh của mình], nhằm không đẩy cuộc chiến tranh lên một cấp độ cao hơn, dài ngày hơn, với phạm vi rộng lớn hơn; nhưng nếu hết giai đoạn 2 (Trung Quốc phải rút quân) quân địch vẫn ngoan cố leo thang quy mô chiến tranh, chúng ta sẽ sử dụng đến lực lượng chủ lực. Đó là nghệ thuật quân sự, bản lĩnh quân sự.

  • Thiên Nam

Thứ Hai, 24/02/2020 07:24

Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện