Tháng 2/1979: Chiến thắng của sức mạnh chính nghĩa Việt Nam

(Quan hệ quốc tế) - Mở cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam tháng 2/1979, Trung Quốc là cường quốc quân sự thứ 3 của thế giới thất bại trước Quân đội Việt Na, sau Pháp, Mỹ.

Trong những kỳ trước với các bài viết:         

Cuộc chiến tranh 2/1979: Những ký ức không phai;

Cuộc chiến 02/1979: Xâm lược dưới chiêu bài ‘phản kích tự vệ’;

Tháng 2/1979: 60 vạn quân 'tự vệ' trước du kích Việt Nam;

Tháng 2/1979: Trung Quốc phải hủy quyết định đánh Điện Biên Phủ;

chúng ta đã tìm hiểu về quá trình chuẩn bị kỹ lưỡng cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của nhà cầm quyền Bắc Kinh và Quân đội Trung Quốc.

Có một số tài liệu cho rằng cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc chia làm 2 giai đoạn, kết thúc khi tuyên bố rút quân về, nhưng trên thực tế, đến ngày 16/3, những lực lượng cuối cùng mới rút khỏi Việt Nam và trong giai đoạn này vẫn xảy ra một số trận đánh, nên chúng ta có thể phân thành 3 giai đoạn.

Giai đoạn 1 (từ ngày 17 đến 27/2)

5 giờ sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979, pháo binh Trung Quốc ồ ạt tấn công vào nội địa của ta, tiếp theo là xe tăng và khoảng 120.000 quân Trung Quốc rầm rộ tràn qua, tiến đánh Việt Nam trên toàn tuyến biên giới, từ tỉnh tây bắc là Lai Châu đến tỉnh đông bắc là Quảng Ninh. Tổng cộng quân Trung Quốc xâm nhập Việt Nam trên 26 điểm.

Cánh phía đông (hướng Quảng Tây) có sở chỉ huy tiền phương đặt tại Nam Ninh và mục tiêu chính là Lạng Sơn, Cao Bằng với 2 hướng tiến đánh chính.

Hướng thứ nhất do Quân đoàn 42 dẫn đầu từ Long Châu đánh vào Đồng Đăng, nhằm làm bàn đạp đánh Lạng Sơn, hướng thứ hai do Quân đoàn 41 dẫn đầu, từ Tĩnh Tây và Long Châu đánh vào Cao Bằng và Đông Khê.

Ngoài ra, Quân đoàn 55 cũng tổ chức một hướng tiến công từ Phòng Thành - Quảng Tây đánh vào Móng Cái - Quảng Ninh của ta.

Cánh phía tây (hướng Vân Nam) có sở chỉ huy tiền phương đặt tại Mông Tự-Vân Nam, với 3 mũi tiến công chính.

Mũi thứ nhất do lực lượng của các Quân đoàn 11 và 13 đánh vào thị xã Lào Cai. Hướng thứ hai từ Văn Sơn đánh vào Hà Giang. Hướng thứ 3 do sư đoàn 42 của Quân đoàn 14 dẫn đầu đánh từ Kim Bình vào Lai Châu.

Về phía ta, vào thời điểm Trung Quốc nổ súng tấn công, 3 trong số 4 Quân đoàn chính quy đang tập trung ở khu vực biên giới Tây Nam và chiến trường Campuchia; Quân đoàn chủ lực duy nhất ở ngoài bắc là Quân đoàn 1 triển khai lực lượng xây dựng một phòng tuyến bảo vệ thủ đô Hà Nội và các tỉnh đồng bằng, chuẩn bị cho tình huống xấu nhất là Trung Quốc đột phá qua tuyến phòng thủ biên giới, tiến sâu xuống vùng châu thổ sông Hồng.

Lực lượng phòng thủ biên giới của ta chỉ có một số sư đoàn chủ lực quân khu (phần lớn là tân binh) của Quân khu I và II cùng các đơn vị bộ đội biên phòng, bộ đội địa phương tỉnh, huyện; công an vũ trang (biên phòng), du kích xã và dân quân - tự vệ.

Thang 2/1979: Chien thang cua suc manh chinh nghia Viet Nam
Trong cuộc chiến năm 1979, nếu chủ lực Việt Nam tham chiến từ giai đoạn đầu, Trung Quốc còn thất bại nặng nề hơn

Lực lượng tinh nhuệ nhất của phía Việt Nam đứng chân trên khu vực biên giới Việt-Trung là Sư đoàn 3 (Sư đoàn Sao Vàng, thuộc Quân khu 1, đóng quân ở Lạng Sơn) và sư đoàn 316A (Sư đoàn Bông Lau, thuộc Quân khu 2, đóng quân tại Sa Pa; phân biệt với Sư đoàn Sư đoàn 316B, thuộc Quân khu 4, về sau đổi thành Sư đoàn 356, thuộc Quân khu 2).

Ngoài ra, chúng ta còn có các sư đoàn 346 (Đoàn Tân Trào, thuộc Quân khu 1, đóng quân ở Cao Bằng); Sư đoàn 325B thuộc Quân khu 3, đóng quân ở Quảng Ninh, sau đổi thành Sư đoàn 395 (phân biệt với Sư đoàn 325 của Quân đoàn 2); Sư đoàn 345 Quân khu 2 ở Lào Cai; Sư đoàn 326 Quân khu 2 ở Phong Thổ, Lai Châu.

Lực lượng độc lập của ta gồm các trung đoàn 141, 147, 148, 197, trung đoàn pháo binh 68, các trung đoàn quân địa phương 95, 121, 192, 254 và 741.

Đến ngày 18 và 19-2, chúng ta lần lượt bổ sung hai sư đoàn 327 của Quân khu III (gồm Trung đoàn bộ binh 42, 75, 540 và Trung đoàn pháo binh 120) từ Quảng Ninh lên tiếp viện Quân khu I và sư đoàn 337 của Quân khu IV, (gồm Trung đoàn bộ binh 4, 52, 92 và Trung đoàn pháo binh 108) hành quân bằng cả tàu hỏa và xe vận tải từ Nghệ An ra bắc, lên tiếp viện thẳng cho mặt trận chính ở Lạng Sơn.

Để đối phó với lực lượng tấn công khổng lồ lên tới hơn 60 vạn quân của Trung Quốc, tổng cộng lực lượng phòng thủ biên giới của chúng ta lúc đó chỉ có khoảng 7 vạn quân.

Mặc dù có quân số và hỏa lực áp đảo, cùng với lợi thế bất ngờ, nhưng trong giai đoạn từ ngày 17 đến ngày 28/2, quân Trung Quốc đã vấp phải tinh thần chiến đấu kiên cường và chiến thuật phòng ngự hiệu quả của bộ đội địa phương và dân quân du kích Việt Nam, cũng như việc áp dụng chiến thuật lạc hậu, nên quân Trung Quốc tiến rất chậm và bị thương vong rất nặng nề. Trong cả giai đoạn này, chúng chỉ đánh chiếm được các thị xã Lào Cai, Cao Bằng và một số thị trấn khác.

Tuy nhiên, với tư tưởng quán triệt trước là phải phá hoại nền kinh tế Việt Nam, quân Trung Quốc đã phá hủy triệt để các cơ sở vật chất, kinh tế ở những địa phương này. Các khu vực dân cư Việt Nam chịu thiệt hại nặng nhất từ đợt tấn công đầu tiên này là thị xã Lào Cai, huyện Mường Khương (Lào Cai), Cao Bằng, Lạng Sơn và Móng Cái (khi đó là huyện lỵ của huyện Hải Ninh, tỉnh Quảng Ninh).

Thang 2/1979: Chien thang cua suc manh chinh nghia Viet Nam
Bức huyết thư của một cựu binh Việt Nam xung phong tái ngũ giết giặc

Giai đoạn 2 (từ ngày 28 tháng 02 đến 05 tháng 3)

Giai đoạn 2 bắt đầu từ ngày 27/2, là giai đoạn bộc lộ dã tâm xâm lược của Trung Quốc khi chúng liên tiếp tăng quân đánh sang Việt Nam. Đến thời điểm này cộng đồng quốc tế cũng đã nhận ra sự giả dối và tráo trở của Trung Quốc đằng sau cái gọi là “Chiến tranh phản kích tự vệ”

Áp dụng chính sách hai mặt, Trung Quốc tiếp tục điều quân tăng viện từ Trung Quốc sang Việt Nam trong khi trước đó Đặng Tiểu Bình hứa hẹn "có thể sẽ rút quân sau 10 ngày”. Điều này cho thấy những lời hứa hẹn "cuộc chiến giới hạn" chỉ là điều dối trá trắng trợn.

Chiến sự tập trung tại khu vực Lạng Sơn (mũi Quảng Tây của Trung Quốc), tuy giao tranh tại Lào Cai, Cao Bằng, và Móng Cái vẫn tiếp diễn.

Trung Quốc điều tới hướng thị xã Lạng Sơn thêm 2 sư đoàn từ Đồng Đăng và Lộc Bình (phía Đông Nam Lạng Sơn). Sau đó, đến ngày 2/3 sử dụng thêm sư đoàn 162 dự bị chiến dịch của Tập đoàn quân 54 và dùng 6 sư đoàn tấn công đồng loạt trên nhiều hướng vào Lạng Sơn.

Ở hướng này, sư đoàn 3 và sư đoàn 337 (lực lượng chi viện của Quân khu 4, vừa hành quân từ Nghệ An ra) đã anh dũng đánh bật cuộc tiến công của 6 sư đoàn và nhiều trung đoàn của địch. Với lực lực lượng bình quân hơn 1 sư đoàn đánh với 1 trung đoàn ta, mãi đến ngày 04/3 Trung Quốc mới chiếm được thị xã Lạng Sơn.

Đến cuối giai đoạn này, Việt Nam mới quyết định tung lực lượng chủ lực để ra đòn quyết định, đánh bật quân Trung Quốc về bên kia biên giới. Việt Nam đã điều các sư đoàn chủ lực có xe tăng, pháo binh hỗ trợ áp sát mặt trận, chuẩn bị phản công giải phóng các khu vực bị chiếm đóng.

Quân đoàn 14 (vừa được thành lập ngày 25/2), bao gồm các sư đoàn 3, 327, 338, 337 hầu như còn nguyên vẹn, bắt đầu tái triển khai quân bao vây đánh chiếm lại thị xã Lạng Sơn.

Lúc này, sư 320B của Quân đoàn 1 (gồm 3 trung đoàn bộ binh và 1 trung đoàn pháo binh), được tăng cường thêm 1 trung đoàn bộ binh 209 và 1 tiểu đoàn pháo tầm xa 130mm đã từ đồng bằng lên tăng viện cho Lạng Sơn và triển khai đội hình chiến đấu vào ngày 4/3.

Thang 2/1979: Chien thang cua suc manh chinh nghia Viet Nam
Một người lính Trung Quốc bị bắt làm tù binh trong chiến tranh xâm lược năm 1979

Ngoài ra, lực lượng chủ lực của Quân đoàn 2 được máy bay vận tải bốc thẳng từ mặt trận biên giới Tây Nam về đã bắt đầu tập kết sau lưng Quân đoàn 14.

Sau khi thấy một phần chủ lực của Việt Nam đã lên biên giới và các sư chủ lực khác cũng đang ầm ầm kéo quân ra Bắc, cộng với kết quả thương vong, tổn thất quá lớn, đồng thời Việt Nam đã ban bố “Lệnh Tổng động viên quét sạch quân xâm lược”, vào ngày 5/3/1979, Đặng Tiểu Bình tuyên bố đã "hoàn thành mục tiêu chiến tranh" và bắt đầu “rút lui trong chiến thắng".

Giai đoạn 3 (từ ngày 06 đến 16 tháng 3)

Ngày 5 tháng 3 năm 1979, Việt Nam ra lệnh tổng động viên toàn quốc để “bảo vệ Tổ quốc Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, đánh thắng hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của bọn bành trướng và bá quyền Trung Quốc”. Trong khi đó, lực lượng chủ lực của Quân đoàn 1 và 2 cũng đã lên đến biên giới.

Trong bối cảnh đó, Đặng Tiểu Bình vội vã tuyên bố đã hoàn thành được mục đích “dạy cho Việt Nam một bài học” và tuyên bố rút quân. Việt Nam thể hiện tinh thần nhân đạo đúng với truyền thống lịch sử dân tộc hàng ngàn năm qua, tuyên bố cho phép quân xâm lược Trung Quốc được rút lui an toàn.

Tuy nhiên, do trên đường rút chạy, quân Trung Quốc vẫn không ngừng đốt phá, giết người và phá hoại các công trình của Việt Nam nên chủ lực ta đã tiến hành một số trận truy kích, ví dụ như trận Chi Mã, để bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, đồng thời răn đe quân xâm lược giở trò lật lọng.

Đến ngày 16/3/1979, các toán tàn quân cuối cùng của Trung Quốc đã hoàn toàn rời khỏi nước ta, chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa của bè lũ bành trướng Bắc Kinh.

Theo tuyên bố chính thức của phía Việt Nam (còn giữ nguyên cho đến ngày nay), thành tích chiến đấu của quân đội ta như sau:

Mặt trận Lạng Sơn: Diệt 19.000 lính Trung Quốc, phá hủy 76 xe tăng, thiết giáp và 52 xe quân sự, 95 khẩu pháo-cối và giàn phóng hoả tiễn, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 3 trung đoàn, 4 tiểu đoàn.

Thang 2/1979: Chien thang cua suc manh chinh nghia Viet Nam
Tổng số thiệt hại của Trung Quốc (theo tư liệu của kênh truyền hình Quốc phòng-An ninh)

Mặt trận Cao Bằng: Diệt 18.000 lính Trung Quốc, phá hủy 134 xe tăng, thiết giáp và 23 xe quân sự, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 7 tiểu đoàn.

Mặt trận Hoàng Liên Sơn (Khi đó bao gồm Lào Cai và Yên Bái, chiến sự chỉ diễn ra ở Lào Cai): Diệt 11.500 lính Trung Quốc, phá hủy 66 xe tăng, thiết giáp và 189 xe quân sự, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 4 tiểu đoàn.

Mặt trận Quảng Ninh, Lai Châu và Hà Tuyên: (Hà Tuyên khi đó gồm Hà Giang và Tuyên Quang, chiến sự diễn ra ở Hà Giang) diệt 14.000 lính Trung Quốc, phá hủy 4 xe tăng, thiết giáp, 6 xe quân sự, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn địch.

Tổng số, quân đội ta đã diệt 62.500 tên địch (bình quân mỗi ngày có 1 trung đoàn Trung Quốc bị loại khỏi vòng chiến); phá hủy 280 xe tăng, xe thiết giáp và 270 xe quân sự các loại, 115 khẩu pháo cối và dàn phóng hỏa tiễn các loại. Trung Quốc đã tiêu hao mất 1,06 triệu quả đạn pháo, 23,8 ngàn tấn đạn, 55 triệu viên đạn cá nhân.

Lời kết::

Với lực lượng chỉ bằng gần 1/10 của kẻ thù và phần lớn là dân quân du kích nhưng Việt Nam đã gây tổn thương nặng nề cho quân địch cả về lực lượng và trang bị, đẩy lùi quân giặc ra khỏi biên giới, bảo vệ thắng lợi miền Bắc, viết thêm một trang sử hào hùng trong lịch sử chống ngoại xâm phương Bắc của dân tộc. Nếu quân chủ lực của Việt Nam tham chiến ngay từ những giai đoạn đầu, kết quả của cuộc chiến có lẽ còn thảm hại hơn nữa đối với Trung Quốc.

Giới tướng lĩnh Bắc Kinh lúc đầu to tiếng “dạy cho Việt Nam một bài học” hay “hạ bệ uy tín bách chiến bách thắng của Quân đội Việt Nam”, nhưng khi cuộc chiến này kết thúc, Trung Quốc đã tự điền tên mình vào vị trí thứ 3 trong danh sách những bại tướng của Quân đội Việt Nam trong lịch sử hiện đại, sau Pháp và Mỹ…

  • Thiên Nam

Thứ Bảy, 22/02/2020 07:56

Sự Kiện