Tháng 2/1979: 60 vạn quân 'tự vệ' trước du kích Việt Nam

(Quan hệ quốc tế) - Trung Quốc chuẩn bị trước hàng năm trời, huy động 60 vạn quân đánh Việt Nam tháng 2/1979, nhưng vẫn luôn miệng rêu rao là chỉ ‘Phản kích Tự vệ’.

Trong kỳ trước  với tiêu đề: “Cuộc chiến tranh 2/1979: Những ký ức không phai” “Cuộc chiến 02/1979: Xâm lược dưới chiêu bài ‘phản kích tự vệ’” chúng ta đã tìm hiểu về những động thái phi quân sự của nhà cầm quyền Bắc Kinh để chuẩn bị cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Song song với việc tìm kiếm đồng minh; tạo cớ, tạo dư luận; chủ động leo thang căng thẳng với Việt Nam; ngay từ năm 1978, Trung Quốc đã tích cực chuẩn bị về mặt quân sự cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, được họ gọi với một cái tên đầy thương cảm, nhằm kêu gọi ủng hộ của cộng đồng quốc tế là “Chiến tranh Phản kích Tự vệ”.

Trung Quốc đề ra tư tưởng chỉ đạo và phác thảo kế hoạch

Ngày 23/11/1978, Bộ Tổng tham mưu Trung Quốc đã triệu tập một cuộc họp bí mật. Tại đây, một kịch bản mới về một cuộc chiến tranh quy mô, trong thời gián khá dài, nhằm vào các vị trí quân sự chính của Việt Nam và các thành phố đối diện qua biên giới với các tỉnh Vân Nam và Quảng Tây đã được bàn bạc kỹ lưỡng. Cuộc họp chỉ định hai quân khu Quảng và Quân khu Vân Nam sẽ trực tiếp thực hiện chiến dịch xâm lược này.

Ngoài ra cuộc họp cũng quyết định điều động một lực lượng dự bị chiến lược, bao gồm 4 Quân đoàn và 1 sư đoàn, lấy từ các khu vực khác là Quân khu Vũ Hán và Quân khu Thành Đô để củng cố cho mặt trận Quảng Tây và Vân Nam.

Tư tưởng tác chiến được Quân đội Trung Quốc được lựa chọn là “triển khai 2 mũi tấn công lớn từ 2 hướng, tập trung quân số áp đảo toàn diện để bao vây quân địch từ hai bên sườn, nhằm tiêu diệt từng bộ phận quân địch bằng những trận đánh hủy diệt lớn, theo phương thức đánh nhanh rút gọn”.

Trên cơ sở đó, vào ngày 7/12/1978, Quân ủy Trung ương Trung Quốc đã triệu tập một cuộc họp, ra quyết định phát động một cuộc chiến tranh hạn chế trên tuyến biên giới phía nam Trung Quốc để “giáng trả” Việt Nam.

Chỉ thị của Quân ủy Trung ương Trung Quốc nêu rõ, cuộc chiến tranh được hạn chế nghiêm ngặt trong vòng bán kính 50km từ đường biên giới và kéo dài trong 2 tuần, các đơn vị được ấn định ở phần trên phải chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu từ ngày 10 tháng 1 năm 1979.

Thang 2/1979: 60 van quan 'tu ve' truoc du kich Viet Nam
Cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc đã bị quân và dân ta đánh bại

Tiếp theo, trong cuộc họp vào lễ Giáng sinh năm 1978, Đặng Tiểu Bình - Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc, đã quyết định không thành lập Bộ chỉ huy chung mà hai cánh quân sẽ tiến hành chiến đấu độc lập, không có phối hợp hoặc hiệp đồng.

Đặng Tiểu Bình chỉ định Hứa Thế Hữu (Xu Shiyou) làm Tư lệnh cánh quân phía Đông (Quảng Tây); không dùng Vương Tất Thành (Wang Bicheng), Tư lệnh quân khu Vân Nam, mà dùng Dương Đắc Chí (Yang Dezhi), tư lệnh quân khu Vũ Hán, chỉ huy cánh quân phía tây (Vân Nam).

Dự kiến về các giai đoạn của cuộc chiến và mục tiêu cần đạt được

Ngày 11/2/1979, hai ngày sau khi Đặng Tiểu Bình hoàn tất chuyến thăm Mỹ-Nhật, cuộc họp Bộ Chính Trị mở rộng được triệu tập. Đặng Tiểu Bình đã ra mệnh lệnh phát động cuộc tấn công Việt Nam vào ngày 17 tháng 2 năm 1979, gửi tới các tư lệnh quân khu Quảng Tây và Vân Nam.

Sở dĩ Bắc Kinh chọn tháng 2 là bởi thời gian sau đó sẽ là mùa mưa, bất lợi cho việc tiến hành các chiến dịch quân sự, còn nếu tấn công sớm quá thì quân đội Liên Xô có thể dễ dàng vượt qua những con sông đang đóng băng dọc biên giới Trung-Xô tấn công sang lãnh thổ Trung Quốc.

Các giai đoạn của cuộc chiến tranh được Bắc Kinh gọi bằng cái tên đầy thương cảm là “Chiến tranh phản kích tự vệ”, được giới tướng lĩnh Trung Quốc xác định chia thành ba giai đoạn với những tên gọi đầy ngạo mạn, đắc thắng là: “Khai chiến, Tiêu diệt và Quét sạch”.

Theo kế hoạch đã vạch sẵn, cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam được Trung Quốc chia làm 3 giai đoạn. Giai đoạn 1 (từ ngày 17 đến 27/2); Giai đoạn 2 (từ ngày 27/2-5/3): Giai đoạn 3 (từ ngày 5 đến 16/3).

Trong giai đoạn đầu, quân đội Trung Quốc dự tính mở hai mũi nhọn tấn công; mũi phía Đông tấn công vào Cao Bằng và mũi phía Tây tấn công vào Lào Cai, phá vỡ tuyến phòng ngự đầu tiên của Việt Nam và đánh chiếm các hai thị xã thủ phủ của hai tỉnh; cùng với đó là một mũi tấn công ở phía Đông đánh chiếm các thị trấn biên giới quan trọng là Cam Đường và Đồng Đăng, cửa ngõ ra vào Lạng Sơn.

Thang 2/1979: 60 van quan 'tu ve' truoc du kich Viet Nam
Các mũi tiến công của Trung Quốc sang lãnh thổ Việt Nam

Sang giai đoạn hai, ở cánh quân phía Đông, lực lượng Trung Quốc ở Quảng Tây sẽ tiếp tục tập trung tấn công vào Lạng Sơn và các vùng phụ cận phía tây; trong khi các cánh quân vu hồi ở Vân Nam (cánh quân phía Tây) sẽ sẽ bao vây, tiêu diệt các sư đoàn quân Việt Nam đứng chân tại vùng Tây Bắc, ở thị xã Sa Pa (Lào Cai) và huyện Phong Thổ (Lai Châu).

Trong giai đoạn cuối, quân đội Trung Quốc dự định sẽ “nỗ lực truy quét để tiêu diệt nốt các lực lượng Việt Nam còn sót lại trong quá trình phá hủy hệ thống quân sự tại khu vực biên giới với Trung Quốc”.

Huy động một lực lượng quân sự khổng lồ

Để thực hiện kế hoạch tác chiến theo kiểu “Biển người”, các nhà hoạch định quân sự của Trung Quốc quyết định sẽ tập hợp một lực lượng vũ trang vượt trội với tỷ lệ 8:1 để tấn công quân Việt Nam. Do đó, Trung Quốc đã chuẩn bị kỹ lưỡng, huy động một lực lượng khổng lồ gồm 10 Quân đoàn (QĐ) chủ lực (1 QĐ làm nhiệm vụ dự bị) và một số sư đoàn bộ binh độc lập (tổng cộng 32 sư đoàn bộ binh), thuộc 5 Quân khu.

Theo Nhân dân Nhật báo Trung Quốc, cánh quân Quảng Tây (phía đông) do Hứa Thế Hữu chỉ huy, bao gồm các QĐ 41, 42 (Quảng Châu), 43 (Vũ Hán), 54, 55 (Quảng Châu)  và QĐ 50 (thiếu sư 149, phối thuộc cho cánh quân Vân Nam), tiến công vào đông bắc Việt Nam với trọng điểm là Lạng Sơn và Cao Bằng.

Trong đó, hướng Lạng Sơn do QĐ 43, 54, 55 phụ trách, còn hướng Cao Bằng do QĐ 41, 42, 50 đảm nhận nhiệm vụ tấn công, hướng Quảng Ninh có từ 1-2 sư đoàn.

Cánh quân Vân Nam (phía tây) do Dương Đắc Chí chỉ huy, bao gồm các QĐ 11, 13, 14 và sư 149/QĐ 50 đảm nhiệm tấn công vào hướng tây bắc Việt Nam, với trọng điểm là Lào Cai (trước thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn, nay tách ra thành Lào Cai và Yên Bái).

Riêng hướng Hoàng Liên Sơn do QĐ 13, 14 phụ trách tấn công; hướng Lai Châu có QĐ 11; hướng Hà Giang (trước thuộc tỉnh Hà Tuyên, nay tách thành Hà Giang, Tuyên Quang) cũng có từ 1-2 sư đoàn.

Thang 2/1979: 60 van quan 'tu ve' truoc du kich Viet Nam
Trung Quốc hoang tưởng rằng chiến thuật ‘biển người’ sẽ giúp họ giành thắng lợi trước Việt Nam

Tổng cộng, Trung Quốc đã huy động 9 quân đoàn (29 sư đoàn) với tổng số khoảng 620.000 quân, trong đó có hơn 300.000 quân chủ lực, được coi là thiện chiến nhất khi đó, núp dưới danh nghĩa bộ đội địa phương. Ngoài ra, còn khoảng hơn 300.000 dân binh, thuộc lực lượng quân dự bị.

Theo các nguồn tin của Trung Quốc, lực lượng tác chiến hỏa lực gồm có 6 trung đoàn xe tăng; 4 sư đoàn và nhiều trung đoàn pháo binh, phòng không độc lập, với tổng số gần 800 xe tăng-thiết giáp (550 xe tăng), 480 khẩu pháo, 1.260 súng cối và dàn hỏa tiễn.

Ngoài ra, hơn 200 tàu chiến của Hạm đội Nam Hải đã dàn trận ở Biển Đông và 1.700 máy bay chiến đấu của Không quân Trung Quốc đã sẵn sàng yểm trợ ở các sân bay phía sau. Tuy nhiên, vì những lí do riêng, Hải quân và Không quân Trung Quốc đã không tham chiến.

Hơn 700 máy bay chiến đấu và máy bay ném bom (tức 1/5 lực lượng không quân Trung Quốc), đã được đưa đến các sân bay giáp biên giới, phối hợp với các lực lượng lục quân, chuẩn bị một chiến dịch tấn công tổng lực, đại quy mô, xâm lược trực diện, xâm lược toàn diện.

Để phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm lược, Trung Quốc đã huy động hàng chục vạn dân công ở các tỉnh biên giới để tải đồ tiếp tế, phục vụ, tải thương, hỗ trợ quân chính quy phục vụ cho chiến dịch. Theo số liệu công khai, chỉ riêng tại Quảng Tây đã có đến 215.000 dân công được huy động.

Định hướng tác chiến của giới tướng lĩnh Trung Quốc

Sau khi nhận trọng trách vào tháng 12/1978, tướng Hứa Thế Hữu đã huênh hoang là sẽ nhanh chóng nghiền nát lực lượng chủ lực của Việt Nam. Theo kinh nghiệm chiến đấu của mình và dựa trên các bài bản chiến thuật của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, họ Hứa đã vạch ra tư tưởng chỉ đạo cho cuộc chiến tranh là “ngưu đao sát kê” (tức là “dùng dao mổ trâu để cắt tiết gà”), vạch ra nguyên tắc tác chiến gồm ba điểm:

Một là: Tập trung tấn công vào vị trí quan trọng nhưng phòng thủ sơ hở của quân Việt Nam.

Hai là: Sử dụng lực lượng và hỏa lực áp đảo (tiền pháo hậu xung) để đập tan hàng phòng ngự của địch tại những những cứ điểm then chốt.

Ba là: Các đơn vị xung kích phải dốc sức nhanh chóng thọc sâu và tấn công theo tất cả các con đường dẫn đến sào huyệt kẻ thù.

Thang 2/1979: 60 van quan 'tu ve' truoc du kich Viet Nam
Trung Quốc đã huy động hàng ngàn xe tăng, xe bọc thép và trọng pháo để tấn công Việt Nam

Theo cách này, họ Hứa tin rằng, dưới sự chỉ huy của của ông ta, quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc có thể nhanh chóng đột phá và xé nát hệ thống phòng thủ biên giới của Việt Nam; đập tan mọi sự kháng cự, thọc sâu vào nội địa của Ta, để bao vây, chia cắt và sau đó tiêu diệt hết chủ lực Việt Nam.

Theo tinh thần chỉ đạo và định hướng tác chiến đó, 2 cánh quân chủ lực của Trung Quốc đã độc lập xây dựng những kế hoạch tác chiến riêng của mình, trong đó tập trung nhấn mạnh đến việc 2 vấn đề chính là: Chiếm đóng các thị xã, thị trấn quan trọng trên biên giới Việt Nam; tiêu diệt lớn các sư đoàn quân chính quy của Việt Nam dọc biên giới Trung-Việt.

Tuy nhiên, lo lắng vì không biết lực lượng tham chiến có đủ thời gian để chuẩn bị cho cuộc chiến tranh hay không, Đặng Tiểu Bình đã cử phó Tổng tham mưu trưởng Dương Dũng và Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Trương Chấn lần lượt đến Vân Nam và Quảng Tây để thị sát điều kiện chiến đấu.

Qua thị sát, lo ngại vấn đề binh lính chưa sẵn sàng chiến đấu do chưa tham gia vào bất cứ cuộc chiến tranh lâu dài nào, Trương đã lập tức đề nghị hoãn cuộc chiến lại một tháng, quân đội được lệnh tiến hành cuộc chiến tranh vào khoảng giữa tháng 2/1979.

Tổ chức huấn luyện cấp tốc và tăng cường giáo dục chính trị

Từ cuối tháng 12 năm 1978 đến hết tháng Giêng năm 1979, nhằm củng cố tinh thần chiến đấu và nâng cao khả năng tác chiến cho binh lính; Quân đội Trung Quốc đã đẩy mạnh các hoạt động giáo dục chính trị tư tưởng, huấn luyện chiến đấu và diễn tập.

Do thời gian gấp gáp, công tác huấn luyện quân sự được tập trung nhiều vào những kỹ năng cá nhân cơ bản của người lính như bắn, ném lựu đạn; không có điều kiện nâng cao sự phối hợp giữa lực lượng bộ binh với các đơn vị hỏa lực và giữa bộ binh với tăng-thiết giáp đi kèm.

Sự chuẩn bị vội vã trong thời gian ngắn đã mang lại hiệu quả không cao. Chỉ một vài đơn vị cấp phân đội của Trung Quốc có khả năng tiến hành các cuộc huấn luyện được coi là có ý nghĩa về chiến thuật hoặc diễn tập cấp trung đoàn hoặc sư đoàn. Nhiều sĩ quan báo cáo rằng họ không thể đảm bảo các binh sĩ của họ có khả năng tác chiến.

Thang 2/1979: 60 van quan 'tu ve' truoc du kich Viet Nam
Trung Quốc hy vọng rằng, hỏa lực vượt trội và tinh thần chiến đấu có thể giúp họ chiến thắng Việt Nam

Mặc dầu nhu cầu huấn luyện là cấp bách, nhưng giới chức lãnh đạo quân sự của nước này vẫn không quên truyền thống quân sự của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc là sử dụng học thuyết chính trị để nâng cao tinh thần và cải thiện hiệu năng chiến đấu.

Cỗ máy tuyên truyền đã được thiết lập để thuyết phục binh lính rằng quyết định của ban lãnh đạo Trung ương là cần thiết và đúng đắn. Việt Nam từ khi theo Liên Xô đã thay đổi một cách xấu xa, coi Trung Quốc là kẻ thù và đang thực thi tham vọng bành trướng khắp Đông Dương.

Các bài giảng chính trị mang tính nhồi sọ và các cuộc họp được mở liên miên với việc trưng bày các bằng chứng, hiện vật, cũng như tranh ảnh, hoặc là ngụy tạo hoặc là bị xuyên tạc về ý nghĩa, nhằm gia tăng chủ nghĩa yêu nước “Đại bá” và lòng căm thù Việt Nam.

Kết luận:

Trong 3 bài viết vừa qua, chúng ta đã nhận thấy rằng: Trong suốt năm 1978 và 2 tháng đầu năm 1979, Bắc Kinh đã liên tục tiến hành công tác chuẩn bị một cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn vào lãnh thổ nước ta, với sự tham gia của hơn 600.000 quân và hàng ngàn xe tăng, thiết giáp, hàng vạn khẩu pháo lớn nhỏ; nhưng lại la làng rất tội nghiệp là Trung Quốc buộc phải tiến hành “Chiến tranh phản kích tự vệ” với Việt Nam.

Sự áp đảo về lực lượng và sự chủ động chuẩn bị chiến tranh của Trung Quốc cho thấy đây là âm mưu đã định, được sự chuẩn bị kỹ càng, nhằm thực hiện âm mưu chiếm đoạt lãnh thổ của Việt Nam. Những luận điệu “Việt Nam chủ động gây hấn, xâm lược, lấn chiếm đất đai Trung Quốc” mà nhà cầm quyền Bắc Kinh luôn miệng rêu rao, rõ ràng là một sự dối trá trắng trợn.

Do đó, không thể gọi cuộc chiến tháng 2/1979 là “Chiến tranh biên giới Việt-Trung 1979” (quốc tế) hay “Chiến tranh Phản kích Tự vệ” (Trung Quốc), mà cần phải đặt tên cho cuộc chiến này đúng với tính chất của nó là “Cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc năm 1979”! Và họ đã thất bại như thế giới đã thấy.

Thiên Nam

Thứ Năm, 20/02/2020 07:20

Sự Kiện