Những nét mới của Nga trong ‘quản lý khủng hoảng láng giềng’

(Quan hệ quốc tế) - Theo chuyên gia của BESA Center, chính sách đối ngoại của Nga với các nước láng giềng đang có sự thay đổi theo xu hướng thận trọng và mềm dẻo hơn.

Bàn về chính sách đối ngoại của Nga trong thời kỳ mới, tác giả Emil Avdaliani nhận định trong “Báo cáo toàn cảnh số 2000” của Trung tâm BESA rằng: Hướng tới hạn chế xung đột trực tiếp và thận trọng điều động trong chính sách đối ngoại khi xử lý bất ổn với các quốc gia láng giềng đã mang lại cho Nga những lợi ích lớn về vị thế chung trong khu vực.

Hành động của Nga trong khủng hoảng chính trị ở các nước láng giềng

Năm vừa qua, Nga đã phải đối mặt với khủng hoảng ở nhiều mức độ khác nhau với các quốc gia có chung đường biên giới. Trong đó, nổi bật nhất phải kể đến 3 nước đồng minh của Nga là Belarus, Armenia và Kyrgyzstan khi họ liên tiếp trải qua bất ổn nội bộ.

Điện Kremlin cũng đã đặt mục tiêu giải quyết ổn thỏa các bất ổn này lên hàng đầu. Bất kỳ sai lầm dù là nhỏ nhất đều có thể gây tổn hại đến lợi ích của Nga, đẩy các lực lượng ủng hộ Moscow rơi vào thế bí cũng như gia tăng tư tưởng chống Nga trong cộng đồng dân cư tại các quốc gia láng giềng.

Tuy nhiên, xét đến chiều ngược lại, điều này cũng mang đến những cú hích không nhỏ đối với Nga, về cả kinh tế lẫn ảnh hưởng chính trị.

Thay vì thực hiện các nước đi cứng rắn trên cả hai mặt trận quân sự và chính trị vẫn thường thấy trong đối ngoại với các nước láng giềng, Nga đã đưa ra những điều chỉnh đáng chú ý khi giải quyết xung đột tại ba quốc gia kể trên, phản ánh bước tiến mới trong cách tiếp cận lẫn xử lý khủng hoảng của Moscow.

Tại Nam Caucasus, các động thái của Nga trong cuộc xung đột gần đây giữa Armenia và Azerbaijan phản ánh vị thế địa chính trị lâu dài gắn liền với khu vực này của Điện Kremlin.

Dù rằng đã xuất hiện một vài mâu thuẫn so với ban đầu trong cách tiếp cận cuộc chiến, nhưng thỏa thuận ba bên và việc lực lượng gìn giữ hòa bình của Nga hiện diện ở Nagorno-Karabakh (NK) đã phủ nhận ý kiến cho rằng, Moscow đang mất dần sự kiểm soát của mình đối với khu vực này.

Nhung net moi cua Nga trong ‘quan ly khung hoang lang gieng’
Lực lượng gìn giữ hòa bình của Nga hiện diện ở Nagorno-Karabakh

Ở Belarus, mặc dù làn sóng phản đối Tổng thống Alexander Lukashenko đã giảm đi đáng kể, nhưng nhìn chung, ác cảm đối với chính phủ cầm quyền vẫn ở mức cao.

Điều này cho thấy sự trở lại của chủ nghĩa dân tộc Belarus bên cạnh con đường tiến tới cực đoan hóa của các lực lượng đối lập, cả hai đều là những dấu hiệu đáng lo ngại đối với Moscow. Đây có thể coi là nguyên nhân vì sao Nga đã không đưa ra những phát ngôn gay gắt chống phương Tây và chống biểu tình như thường lệ ở các cuộc khủng hoảng trước.

Việc hỗ trợ quân sự cho ông Lukashenko có thể đã được thảo luận kín trước đó, tuy nhiên, Moscow vẫn đang cố gắng giữ vị trí trung lập bằng cách tránh thực hiện các biện pháp cực đoan, điều có thể đẩy các cuộc biểu tình của phe đối lập vốn ban đầu chỉ nhằm mục đích chỉ trích chính quyền Minsk, chuyển hướng ngả theo phương Tây.

Tương tự, khi một cuộc nổi dậy khác nổ ra ở Kyrgyzstan có thể dễ dàng gây tổn hại đến ảnh hưởng của Nga cả về kinh tế và quân sự, Moscow đã tránh đưa ra những động thái quá mức, chờ đợi thời cơ và tiếp cận tình hình với quan điểm thực tế hơn.

Thay đổi tư duy sau những sai lầm quá khứ

Khác với loạt động thái quân sự trực tiếp mà Nga thực hiện ở Ukraine và Gruzia, việc Moscow đưa ra những bước đi cẩn trọng hơn đối với ba quốc gia này đã khiến một số luồng dư luận cho rằng chính sách đối ngoại của Nga đang bước vào thời kỳ hậu đế quốc, thời điểm Điện Kremlin sẽ suy xét thận trọng khi đưa ra các đường lối mới.

Ở thời điểm hiện tại, Nga sẽ dựa nhiều hơn vào các biện pháp kinh tế, ngoại giao lẫn tuyên truyền, nếu muốn tiếp tục nuôi dưỡng các tham vọng địa chính trị của mình.

Nhiều năm học hỏi từ những sai lầm trong quá khứ đã thúc đẩy Nga phát triển và thích nghi dần với tình hình biến đổi địa chính trị suốt dọc chiều dài biên giới. Phản ứng ôn hòa hơn khi đối mặt các cuộc khủng hoảng có thể xem như dấu hiệu của sự trưởng thành về khía cạnh địa chính trị: Điện Kremlin không còn coi những thay đổi, thậm chí là cực đoan, xảy ra tại các quốc gia láng giềng là một phần của tư tưởng chống Nga như trước đây.

Đối với Nga, có thể rút ra bài học này là điều không hề dễ dàng. Các sự kiện năm 2008 ở Gruzia và năm 2014 ở Ukraine - đã mang lại cho Nga những lợi ích to lớn ngay lập tức, tuy nhiên lại đi kèm cùng những rắc rối lâu dài.

Ngược lại với cách tiếp cận trước đây, những cải tiến trong chính sách đối ngoại của Nga đã và đang mang lại nhiều kết quả tốt đẹp. Trong các cuộc khủng hoảng ở Belarus, Armenia và Kyrgyzstan, Moscow không chỉ duy trì được lợi ích chiến lược cốt lõi của bản thân mà thậm chí còn qua những khó khăn nội bộ của các quốc gia đó để gia tăng ảnh hưởng của chính Nga.

Hậu cuộc chiến Azerbaijan-Armenia, Yerevan phụ thuộc nhiều hơn vào Moscow, đặc biệt là khi lực lượng gìn giữ hòa bình của Nga hiện đang đóng quân ở Nagorno-Karabakh. Sự gia tăng phụ thuộc tương tự cũng được dễ dàng nhận thấy trong trường hợp của Lukashenko ở Belarus và ban lãnh đạo mới của Kyrgyzstan cũng đang tìm kiếm sự hỗ trợ tích cực về kinh tế và chính trị của Moscow.

Thêm một lý do khiến Nga đang trên đà mở rộng vị thế là bản chất quan hệ quốc tế đang thay đổi. Chủ nghĩa quốc tế tự do đang rơi vào căng thẳng nghiêm trọng. Những gì còn lại của các chuẩn mực chi phối thế giới kể từ khi Chiến tranh Lạnh Nga-Mỹ kết thúc đã không còn tồn tại được nữa. Hoa Kỳ đã mất đi chỗ đứng và đang cố gắng lấy lại vị thế của bản thân. Dẫu vậy, điều tốt nhất mà Nga có thể hy vọng đó là kiểm soát được sự trỗi dậy của các quốc gia phi tự do chống lưng bởi chủ nghĩa tư bản đi cùng chủ nghĩa bảo hộ.

Có thể nhìn nhận sự tiết chế hành động của Nga ở một khía cạnh khác. Không có cuộc khủng hoảng nào nêu trên mà Moscow cần lo ngại sẽ bị hiệu ứng đám đông áp đảo. Khác với Ukraine và Gruzia, ảnh hưởng của phương Tây ở Armenia, Belarus và Kyrgyzstan rất ít ỏi.

Nếu tư tưởng chống Nga tại ba quốc gia kể trên trở nên nguy hiểm đối với lợi ích cốt lõi của Moscow, thì nước này có thể đã lựa chọn các biện pháp quân sự cứng rắn truyền thống. Điều này cũng kéo theo nhận định về giai đoạn hậu đế quốc trở nên bớt chính xác hơn. Nga không sử dụng các biện pháp cứng rắn đơn giản là vì họ cảm thấy không có bất kỳ mối đe dọa trực tiếp nào.

Khó xây dựng lòng tin của các nước láng giềng nhỏ hơn

Mặc dù các quốc gia bị khủng hoảng đã gia tăng sự phụ thuộc vào Moscow, sự ngờ vực dai dẳng giữa Nga và các quốc gia láng giềng vẫn hiện hữu.

Các chính trị gia Nga gặp khó khăn trong việc cân bằng giữa hợp tác và chi phối trong quan hệ song phương với các nước láng giềng, cũng như trong các liên minh do Nga đứng đầu. Điều này đặt ra các giới hạn đối với bất kỳ sự hợp tác nào giữa Moscow và các quốc gia láng giềng cũng như đòi hỏi sự cân bằng ngoại giao cần được duy trì liên tục.

Giống như Hoa Kỳ, Nga cũng tồn tại yếu tố thứ bậc trong quan hệ với các nước láng giềng và cố gắng thiết lập tính hòa nhập với các nước đó thông qua Liên minh Kinh tế Á-Âu (EEU) và Tổ chức Hiệp ước An ninh Tập thể (CSTO).

Việc gây dựng lại hình ảnh của Nga như một cường quốc hàng đầu thế giới đang đi ngược lại với điều mà Moscow cần nhất hiện tại, đó là lòng tin. Điều này giải thích tại sao chiến lược thông qua EEU và CSTO đặc biệt thành công. Trên thực tế, Điện Kremlin đã gặt hái nhiều thành công hơn khi sử dụng các cơ chế song phương so với đa phương nhằm thúc đẩy các lợi ích cốt lõi của mình. Song phương hóa các mối quan hệ có thể sẽ vẫn là nền tảng trong việc hoạch định chính sách của Moscow trong tương lai gần.

Cho đến thời điểm hiện tại, chính sách này đã đem đến một số thành công nhất định, tuy nhiên các vấn đề trong quản lý và tổ chức với các nước lân cận vẫn sẽ cản trở nỗ lực của Nga trong việc xây dựng một trật tự chung mà không làm suy giảm lòng tin của các quốc gia nhỏ hơn. Ngay cả Mỹ cũng gặp khó khăn trong việc duy trì sự cân bằng đó trong chủ nghĩa quốc tế tự do vốn rất mong manh.

Nhật An

Thứ Bảy, 15/05/2021 13:56

Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện