Lệnh Tổng động viên tháng 3/1979: Ý nghĩa của ‘Hịch non sông'

(Quan hệ quốc tế) - Lệnh Tổng động viên tháng 3/1979 kêu gọi chống quân Trung Quốc xâm lược có ý nghĩa không chỉ  ở thời điểm đó...

5h sáng ngày 17/2/1979, Trung Quốc bất ngờ mở cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Hơn 60 vạn quân được sự yểm trợ của gần 800 xe tăng, xe bọc thép, trọng pháo đồng loạt tấn công 6 tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam, từ trái sang phải theo tuyến biên giới là Lai Châu (gồm cả địa bàn tỉnh Điện Biên hiện nay), Hoàng Liên Sơn (nay là Lào Cai và Yên Bái), Hà Tuyên (nay là Hà Giang và Tuyên Quang), Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh.

Trong khi đó, đại bộ phận quân chủ lực của ta (3 quân đoàn) đang ở mặt trận biên giới Tây Nam, ngoài bắc chỉ có Quân đoàn 1 nhưng phải dàn trận phòng thủ đồng bằng và bảo vệ thủ đô Hà Nội, trên biên giới chỉ có lực lượng bộ đội địa phương của các Quân khu và dân quân, tự vệ, với tổng số khoảng 7 vạn người.

Toàn dân tộc vào trận chống quân xâm lược

Trước tình thế cấp bách, Đảng, Nhà nước, Chính phủ và các tổ chức chính trị - xã hội của đất nước đã nhanh chóng ra những lởi kêu gọi động viên tinh thần toàn dân tộc chống quân xâm lược; động viên sức mạnh của toàn dân tộc vào cuộc chiến tranh giữ nước chống quân xâm lược phương Bắc.

Ngay trong ngày 17/2/1979, Chính phủ Việt Nam ra tuyên bố thể hiện sự tin tưởng sắt đá rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ cùng với sự ủng hộ của bạn bè khắp năm châu, quân và dân Việt Nam nhất định sẽ đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền của dân tộc.

Ngày 18/2/1979, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ra Lời kêu gọi toàn dân đoàn kết “kiên quyết bảo vệ Tổ quốc, chặn đứng và đập tan cuộc chiến tranh xâm lược đầy tội ác của bọn phản động Trung Quốc”.

Ngày 4/3/1979, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra Lời kêu gọi toàn Dân tộc Việt Nam nỗ lực thực hiện nghĩa vụ dân tộc vẻ vang là tiến hành cuộc kháng chiến, đánh thắng quân xâm lược Trung Quốc, bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.

Ngày 5/3, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng đã công bố Lệnh Tổng động viên cả nước để bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đánh thắng hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của bọn bành trướng và bá quyền Trung Quốc.

Lenh Tong dong vien thang 3/1979: Y nghia cua ‘Hich non song'
Lễ công bố Lệnh Tổng động viên tại Thủ đô Hà Nội ngày 5/3/1979

Ngày 6/3/1979, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra Chỉ thị số 69, nhận định về tình hình và đưa ra chủ trương mới, trong điều kiện Việt Nam thể hiện tinh thần đại nhân/đại nghĩa của cha ông hàng ngàn năm qua, cho phép quân xâm lược được rút quân về nước.

Chỉ thị của Ban Bí thư nhắc nhở quân và dân ta: “…trong khi chấp nhận cho địch rút quân, chúng ta luôn luôn phải nâng cao cảnh giác, tăng cường quốc phòng, sẵn sàng giáng trả địch đích đáng, nếu chúng lật lọng, trở lại xâm lược nước ta lần nữa”.

Những quyết sách đúng đắn, kịp thời

Ngoài sự động viên tinh thần toàn dân tộc chống giặc ngoại xâm, Đảng, Nhà nước và Chính phủ đã đưa ra các nhận định chính xác về âm mưu, ý đồ của địch; từ đó vạch ra các chủ trương, biện pháp giúp quân và dân ta giành thắng lợi trong cuộc chiến chống quân xâm lược.

Ngày 1/3/1979, Ban Bí thư ra Chỉ thị số 67, Về việc phát động và tổ chức toàn dân chuẩn bị chiến đấu và bảo vệ Tổ quốc, nêu bật nhiệm vụ “xây dựng thế phòng thủ vững chắc của đất nước, tăng cường sức mạnh chiến đấu, đánh bại quân xâm lược Trung Quốc”.

Lenh Tong dong vien thang 3/1979: Y nghia cua ‘Hich non song'
Chiến sĩ Đại đội 1, Tiểu đoàn 1, Đoàn M123 bộ đội Lạng Sơn chiến đấu dũng cảm, tiêu diệt hàng trăm tên địch tại đồi Không Tên trong 2 ngày 17-18/2/1979

Tiếp đó, ngày 3/3/1979, Bộ Chính trị ra Nghị quyết chuyên đề số 16 về cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Trung Quốc.

Nghị quyết nhận định, chiến tranh có thể diễn biến theo hai tình huống: Một là, địch bị chặn lại ở biên giới, bị tiêu diệt lớn, buộc phải rút quân về nước. Hai là, địch chiếm được một số thị xã và huyện biên giới, mở rộng chiến tranh đến Hà Nội, vùng đồng bằng Bắc Bộ và lan ra cả nước.

Trong bất kỳ tình huống nào, cũng phải giữ vững tư tưởng chủ đạo: Vừa dốc sức giành thắng lợi trong thời gian ngắn, đồng thời phải chuẩn bị mọi điều kiện để đánh lâu dài, quyết đánh tan quân định, với phương châm: “Làm chủ đất nước, làm chủ chiến trường để tiêu diệt địch; tiêu diệt địch để làm chủ đất nước, làm chủ chiến trường”.

Về quân sự, Nghị quyết xác định: Một là: Quyết tâm tiêu diệt quân xâm lược ở biên giới; Hai là: Cả nước ráo riết chống chiến tranh xâm lược, sẵn sàng cho cuộc chiến đấu ở các tuyến trung du và đồng bằng; Ba là: Triển khai kế hoạch bảo vệ Thủ đô Hà Nội và thành phố Cảng Hải Phòng; Bốn là: Tiến hành bố phòng, chuẩn bị chiến đấu ở khu vực hậu phương trực tiếp, từ Hà Nội đến các tỉnh Thanh Hoá và Nghệ Tĩnh (sau này tách ra thành Nghệ An và Hà Tĩnh) và trong cả nước.

Song song với những chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, quân đội ta cũng bám sát thực tế chiến trường, phát động cuộc chiến tranh nhân dân, sử dụng hợp lý các trung, sư đoàn bộ đội địa phương, kết hợp với lực lượng dân quân, du kích, tự vệ, hình thành thiên la địa võng ngăn bước quân thù.

Với những quyết sách đúng và chiến thuật tác chiến hợp lý, lực lượng bộ đội địa phương và dân quân, du kích, tự vệ của ta đã cầm chân quân địch mạnh gấp nhiều lần trên toàn tuyến biên giới, trong thời gian hơn 3 tuần, giúp chúng ta có thời gian và điều kiện chuyển chủ lực từ Campuchia về chuẩn bị tổng phản công tiêu diệt lớn quân địch, buộc địch phải tuyên bố rút quân ngày 5/3.

Những giọt máu của quân dân tuyến đầu biên giới đã nhỏ xuống tạo thành vành đai đỏ ngăn bước quân thù, khiến cho lực lượng tuyến sau có thời gian tổ chức lực lượng, củng cố trận địa công sự cầm chân địch để hậu phương có thời gian điều chuyển binh lực nhằm tiêu diệt sạch quân thù.

Lenh Tong dong vien thang 3/1979: Y nghia cua ‘Hich non song'
Lời kêu gọi đánh thắng quân xâm lược Trung Quốc, bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành ngày 4/3/1979

Lệnh Tổng động viên – Hịch non sông

Sáng 5-3, chương trình phát thanh 90 phút thường ngày của Đài tiếng nói Việt Nam phát bản tin đặc biệt tố cáo tội ác của quân xâm lược Trung Quốc: "Hỡi đồng bào và chiến sĩ yêu quý! Quân thù đang giày xéo non sông, đất nước ta. Độc lập, Tự do, Chủ nghĩa Xã hội của nhân dân ta đang bị xâm phạm; Hòa bình và ổn định ở Đông Nam châu Á đang bị đe dọa…”.

Lời kêu gọi có đoạn: “Dân tộc Việt Nam ta phải ra sức chiến đấu để tự vệ... Toàn thể đồng bào các dân tộc anh em trong cả nước, các tôn giáo, các đảng phái, già, trẻ, gái, trai hãy phát huy truyền thống Diên Hồng, triệu người như một, nhất tề đứng lên bảo vệ tổ quốc".

Ngay sau Lời kêu gọi, Ủy ban Thường vụ Quốc hội họp phiên bất thường dưới sự chủ trì của Chủ tịch Trường Chinh. Theo đề nghị của Hội đồng Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ra quyết định tổng động viên trong cả nước.

Cùng ngày, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ký sắc lệnh 29-LCT ra lệnh tổng động viên trong cả nước. Hội đồng Chính phủ ban hành nghị định về việc thực hiện quân sự hóa toàn dân, vũ trang toàn dân.

Trong đó, yêu cầu mọi công dân trong lứa tuổi do luật định (nam từ 18 đến 45 tuổi, nữ từ 18 đến 35 tuổi) có đủ điều kiện, đều phải gia nhập lực lượng vũ trang theo kế hoạch của Hội đồng Chính phủ. Ngoài ra, những người tự nguyện đều được đưa vào tổ chức vũ trang quần chúng.

Khi xảy ra chiến sự ở địa phương, trừ những người được phép sơ tán đi nơi khác, còn tất cả mọi người phải ở lại làm nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Cả nước huy động mọi nhân lực, vật lực, tài lực cần thiết để đảm bảo nhu cầu của cuộc kháng chiến cứu nước.

Bài xã luận trên báo Nhân dân ra ngày 5/3/1979 nêu rõ "Lời kêu gọi của Trung ương là lời hịch quyết chiến quyết thắng của Tổ quốc. Tất cả con em đất nước Việt Nam đang bước vào cuộc chiến đấu mới: Cả nước đánh giặc, toàn dân là chiến sĩ…".

Lenh Tong dong vien thang 3/1979: Y nghia cua ‘Hich non song'
Lệnh tổng động viên được đăng trên báo Nhân Dân, số ra ngày 6/3/1979

50 triệu người Việt Nam khi ấy đã chuẩn bị sẵn sàng cho tình thế chuyển từ thời bình sang thời chiến. Toàn dân tộc Việt Nam quyết tâm đứng lên quét sạch quân thù khỏi bờ cõi đất nước. Thời điểm tổng động viên, Hà Nội và cả nước đã sẵn sàng để bước vào một cuộc trường kỳ kháng chiến.

Lệnh Tổng động viên của Việt Nam được ban hành trong bối cảnh bộ đội chủ lực của ta đã lên biên giới và chuẩn bị mở chiến dịch phản công quét sạch quân xâm lược trên toàn tuyến biên giới.

Ý nghĩa lịch sử của Lệnh Tổng động viên tháng 3/1979

Tính từ năm 1945 đến nay, Việt Nam mới chỉ ban hành 2 Lệnh Tổng động viên chống quân xâm lược.

Vào năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng ký Sắc lệnh Tổng động viên nhân lực, vật lực, tài lực của toàn thể nhân dân Việt Nam, để phục vụ cho nhu cầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, lúc đó đang bước vào giai đoạn tổng phản công quân Pháp.

Trong kháng chiến chống Mỹ, Việt Nam không ban hành lệnh này nhưng đã có một số văn bản như Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước năm 1966 của Hồ Chủ tịch và những đợt huy động lực lượng dồn sức cho chiến trường miền Nam vào các năm 1972, 1974.

Lệnh Tổng động viên ngày 05/3/1979 vừa được ban ra, Trung Quốc đã vội vã rút quân nên lệnh này chưa kịp thực hiện. Nhưng lời hiệu triệu quân dân cả nước này không chỉ mang ý nghĩa là lời hịch sông núi quét sạch quân xâm lược, mà nó còn có một ý nghĩa lịch sử vô cùng quan trọng đối với toàn đảng, toàn dân và toàn quân ta trong mọi thời điểm.

Lenh Tong dong vien thang 3/1979: Y nghia cua ‘Hich non song'
Quân dân Thủ đô Hà Nội chuẩn bị kháng chiến trong ngày công bố Lệnh Tổng động viên – 05/3/1979

Ý nghĩa thứ nhất: Là cú đòn quyết định buộc Trung Quốc phải nghiêm chỉnh rút quân

Thực ra, không cần lệnh tổng động viên, chỉ cần quân chủ lực vào trận là chúng ta đã đủ sức quét sạch quân xâm lược ra khỏi bờ cõi. Tuy nhiên, chúng ta phải thể hiện cho Trung Quốc biết rằng, nếu kẻ địch vẫn tiếp tục nổ súng xâm lược, chúng sẽ phải trả giá rất đắt.

Với việc lực lượng của Quân đoàn 1 và Quân đoàn 2 đã lên biên giới, lệnh Tổng động viên là cú đòn quyết định khiến Bắc Kinh phải vội vã tuyên bố rút lui. Có thể khẳng định rằng, nếu Trung Quốc không chấp hành lệnh rút lui sau ngày 5/3, chủ lực Trung Quốc sẽ bị tiêu diệt sạch.

Cũng chính bởi lẽ đó, mặc dù các sư đoàn chủ lực đã hợp vây các cụm quân lớn của Trung Quốc nhưng với tinh thần đại nhân, đại nghĩa, chúng ta đã cho phép quân xâm lược được về nước theo một hành lang an toàn.

Ý nghĩa thứ hai: Chuẩn bị tâm thế cho dân tộc trước cuộc chiến đấu lâu dài với Trung Quốc

Về tổng thể, cuộc chiến biên giới phía Bắc chính thức diễn ra từ ngày 17/2 đến ngày 5/3/1979, nhưng trên thực tế, Trung Quốc vẫn ngoan cố đồn trú lại một số cao điểm của Việt Nam, đồng thời sau đó tăng cường các cuộc tấn công xâm lấn trên toàn tuyến biên giới với quy mô cấp tiểu đoàn, trung đoàn.

Lệnh Tổng động viên của Việt Nam là sự chuẩn bị tâm thế cho toàn đảng, toàn dân và toàn quân ta tiếp tục bước vào cuộc chiến chống lại mưu đồ xâm lấn biên giới trên bộ và trên biển của bọn bành trướng bá quyền Trung Quốc.

Xung đột biên giới trên bộ vẫn kéo dài dai dẳng đến tận năm 1988 và ác liệt nhất là vào giai đoạn 1984-1985, tập trung tại Hà Giang và Lạng Sơn. Còn trên Biển Đông, Trung Quốc đẩy mạnh phát triển hải quân, liên tiếp xâm phạm lãnh hải nước ta, mà đỉnh điểm là việc Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng trái phép 6 bãi đá ở Quần đảo Trường Sa tháng 3/1988, dẫn đến cuộc chiến đấu chống quân xâm lược oanh liệt của ta ở đá Gạc Ma.

Lenh Tong dong vien thang 3/1979: Y nghia cua ‘Hich non song'
Thanh niên nô nức đăng ký nhập ngũ và tái ngũ sau khi ban bố lệnh Tổng động viên

Sau khi cuộc chiến chống xâm lược tháng 2/1979 kết thúc, nhiều đợt nhập ngũ vẫn diễn ra, các đơn vị chủ lực của quân đội Việt Nam thay phiên nhau đưa quân lên bổ sung cho chiến trường biên giới trên bộ và trên biển. Những người lính trẻ Việt Nam lứa tuổi 18-20 vẫn tiếp tục ngã xuống để bảo vệ biên giới đất nước, chống quân xâm lược Trung Quốc.

Ý nghĩa thứ 3: Thay đổi nhận thức của Việt Nam về đối tượng và đối tác

Việc Việt Nam tuyên bố Lệnh Tổng động viên chống quân Trung Quốc xâm lược đã cho thấy một sự thay đổi trong nhận thức của chúng ta: không thể chỉ dựa trên ý thức hệ để xác định bạn-thù, rồi mới đến lợi ích của quốc gia, dân tộc. Lợi ích quốc gia là vĩnh viễn; việc bảo vệ độc lập chủ quyền và lợi ích quốc gia phải được đặt trong tổng thể các mối quan hệ quốc tế.

Việt Nam xây dựng quan điểm mới về mối quan hệ đối tượng-đối tác và việc vận dụng chúng trong quan hệ quốc tế nhằm mục đích “thêm bạn, bớt thù”.

Những nhận thức mới đó đã được Đảng ta xây dựng, hoàn thiện và đề ra “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” (gọi tắt là Chiến lược bảo vệ Tổ quốc năm 2003), trong Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (từ ngày 02/7 đến ngày 12/7/2003), có ý nghĩa rất quan trọng đối với đất nước ta không chỉ trong thời gian đó, mà cả trong giai đoạn hiện nay.

Thiên Nam

Thứ Ba, 25/02/2020 07:02

Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện