Giải mã sự lột xác thần kỳ của quốc phòng Hy Lạp

(Bình luận quân sự) - Ngành công nghiệp quốc phòng Hy Lạp đã có những chuyển biến lớn tích cực trong những năm đầu thập niên thứ hai của thế kỷ 21.

Hy Lạp nhìn chung không được coi là một quốc gia có ngành công nghiệp quốc phòng đang phát triển mạnh, nhưng giai đoạn 2020-21 đã chứng kiến ​​một sự thay đổi đáng kể.

Đối với một số người, cụm từ “nền công nghiệp quốc phòng Hy Lạp” là một khái niệm hết sức xa lạ. Người ta khó có thể tưởng tượng được Hy Lạp sẽ xuất khẩu được vũ khí công nghệ cao ra nước ngoài, với lý do chính đáng [nghĩa là được mua vì chất lượng của nó].

Theo dữ liệu trực tuyến của SIPRI, từ năm 2007 đến năm 2012, Hy Lạp là nhà nhập khẩu vũ khí trang bị lớn nhất ở EU. Tuy nhiên, ngành công nghiệp quốc phòng Hy Lạp vụt biến thành một ngôi sao tại triển lãm quốc phòng DEFEA vào tháng 7 năm 2021.

Các công ty quốc phòng Hy Lạp không chỉ tự hào giới thiệu vũ khí công nghệ cao sản xuất tại đất nước mình, sánh vai với các nhà xuất khẩu quốc phòng lâu đời khác (ví dụ như Israel), mà họ còn liên tiếp ký được nhiều hợp đồng khác nhau. Làm thế nào mà ngành công nghiệp quốc phòng Hy Lạp thực hiện được bước chuyển mình ngoạn mục này?

Thực trạng khó khăn trong nước

Trong cuộc khủng hoảng nợ (2009-18), các ngành công nghiệp quốc phòng do nhà nước sở hữu phá sản đã trở thành nguồn gốc gây ra mối bất hòa giữa Troika và Athens.

[“Troika” là một thuật ngữ được sử dụng để chỉ nhóm quyết định được thành lập bởi Ủy ban Châu Âu (EC), Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), liên quan đến giải quyết các gói cứu trợ cho Síp, Hy Lạp, Ireland và Bồ Đào Nha - các nước mất khả năng thanh toán do cuộc khủng hoảng tài chính thế giới 2007-2008, dẫn đến khả năng vỡ nợ].

Trước cuộc “Khủng hoảng nợ công châu Âu” 2010, ngành công nghiệp quốc phòng Hy Lạp là một mô hình thu nhỏ của tình trạng bất ổn kinh niên và có hệ thống của chính đất nước mình.

Nó đầy rẫy tham nhũng, chủ nghĩa thân hữu, lợi ích nhóm, với bộ máy quan liêu được ví như một “mê cung”, các công ty nhà nước phá sản, các doanh nghiệp tư nhân bị thu thuế và hầu như không có mối liên kết nào giữa các viện nghiên cứu với ngành công nghiệp quốc phòng.

Thật vậy, quốc phòng và y tế là những cơ sở màu mỡ nhất cho tham nhũng ở Hy Lạp trong những năm 1990-2000. Đáng chú ý, các chính trị gia duy nhất từng bị bắt và bỏ tù vì cáo buộc tham nhũng trong Cuộc khủng hoảng nợ có liên quan đến việc mua sắm vũ khí.

Giai ma su lot xac than ky cua quoc phong Hy Lap
Trước đây, Hy Lạp là nước chuyên nhập khẩu vũ khí và thiết bị quân sự

“Chủ nghĩa thân hữu” cũng ảnh hưởng đến các công ty quốc phòng lớn nhất thuộc sở hữu nhà nước, mặc dù đã phá sản từ đầu những năm 2000, vẫn tiếp tục tuyển dụng hàng nghìn "khách hàng" từ các đảng cầm quyền và được quản lý bởi những "thân hữu" của các đảng này, khiến các công ty nhỏ trở nên ngày càng suy yếu và nền kinh tế quốc gia phải trả giá.

Và trong khi chính phủ hỗ trợ các công ty nhà nước đã hầu như phá sản bằng cách "sửa chữa nhanh chóng" (tức là thỉnh thoảng tung ra các gói trợ cấp của nhà nước), trong khi các đối tác thuộc sở hữu tư nhân của họ phải vật lộn chống lại việc đánh thuế quá mức, sự thờ ơ và quan liêu của chính phủ.

Tệ hơn nữa, các chính phủ thường thực hiện các giao dịch mua sắm vũ khí trị giá hàng tỷ dollars (do các chính trị gia tham nhũng và những người trung gian) mà không quan tâm đến phát triển trong nước; do dó, sự tham gia của các công ty quốc phòng trong nước là không đáng kể.

Không giống như các nước láng giềng Israel và Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp không áp dụng “lý thuyết nhà nước phát triển”. Thay vào đó, Athens lựa chọn "ngoại giao vũ khí" và do đó, họ không bao giờ đạt được khả năng tự cung tự cấp trong lĩnh vực quân sự.

Những khó khăn từ bên ngoài

Cuộc khủng hoảng năm 2007-2008 chậm tác động tới Hy Lạp nhưng vẫn tàn phá nền kinh tế ốm yếu của nước này trong nhiều năm.

Nhưng tất cả những điều đó là chưa đủ, những luật lệ mới của EU và những gói cứu trợ của Troika buộc Hy Lạp phải “thắt lưng buộc bụng” trong Cuộc khủng hoảng nợ đã càng làm cho nền công nghiệp quốc phòng nước này thêm khốn khó.

Theo chính sách thắt lưng buộc bụng nghiêm ngặt, Athens đã giảm 30% ngân sách quốc phòng và đáng chú ý nhất là không mua sắm vũ khí mới nào hoặc thậm chí là không đủ tiền hiện đại hóa các hệ thống vũ khí cũ kỹ trong hơn một thập kỷ qua.

Sự thắt lưng buộc bụng này đã ảnh hưởng đến các ngành công nghiệp quốc phòng thuộc sở hữu nhà nước và tư nhân, sự phát triển của cả hai nhánh này đều phụ thuộc vào các hợp đồng của Bộ Quốc phòng. Trong vài năm, chưa đến 10% ngân sách của Bộ Quốc phòng được phân bổ cho việc bảo trì các hệ thống vũ khí quan trọng, chẳng hạn như Lực lượng Không quân Hy Lạp không còn tiền để bảo dưỡng số lượng chiến đấu cơ của mình.

Ngay cả sau khi kết thúc Khủng hoảng Nợ, Hy Lạp cũng không đảo ngược xu thế cắt giảm quốc phòng cho đến năm 2020, sau hai cuộc khủng hoảng quân sự với Thổ Nhĩ Kỳ (Khủng hoảng Evros vào tháng 3 năm 2020 và Khủng hoảng Cesme vào tháng 7 năm 2020).

Ba năm sau cuộc Khủng hoảng Nợ, Hy Lạp đã thông qua Chỉ thị Châu Âu 2009/81/EC, quy định việc thiết lập một thị trường phòng thủ chung trong EU và do đó, bãi bỏ “sự bảo hộ” mà ngành công nghiệp quốc phòng của mọi quốc gia thành viên EU được hưởng.

Giai ma su lot xac than ky cua quoc phong Hy Lap
Theon Sensors là công ty chuyên về các thiết bị cảm biến quân sự

Trong cái rủi có cái may, xuất phát từ đặc thù của ngành công nghiệp vũ khí Hy Lạp (quy mô nhỏ, nhiều khoản nợ và xuất khẩu không đáng kể), nền sản xuất quốc phòng nước này bị ảnh hưởng không đáng kể.

Một phần vì áp lực từ Troika và một phần vì chủ nghĩa thực dụng kinh tế, các chính phủ kế tiếp của Hy Lạp đã đồng ý cho tư nhân hóa các tập đoàn quốc phòng quốc doanh đã phá sản (ΕΑΣ, ΕΒΟ, ΕΝΑΕ, ΕΑΒ) mặc dù có không ít những những áp lực chính trị.

Mặc dù đã cố gắng nhiều lần nhưng không có công ty nào trong số này được cổ phần hóa thành công trước khi Cuộc khủng hoảng nợ năm 2018 kết thúc, vì vậy tình hình khó khăn vẫn tiếp diễn. Nhưng tất cả đã thay đổi từ năm 2020, tất cả đã xoay chuyển ngoạn mục chỉ 1 năm sau đó.

Sự thay đổi đáng ngạc nhiên

Ngành công nghiệp quốc phòng Hy Lạp đã thực hiện một bước chuyển mình ngoạn mục vào năm 2020. Từ tình trạng suy tàn, ngành này đã chuyển sang trạng thái ổn định.

Bất chấp sự cạnh tranh khốc liệt (và không hoàn toàn công bằng) với các gã khổng lồ quốc phòng châu Âu, các công ty quốc phòng Hy Lạp (phần lớn thuộc sở hữu tư nhân) đã đảm bảo gần một phần ba các chương trình sắp tới trong khuôn khổ “Hợp tác cơ cấu thường trực” (PESCO - Permanent Structured Cooperation) của EU.

Các công ty thuộc ngành công nghiệp quốc phòng Hy Lạp sẽ tham gia vào 5 trong số 16 dự án thuộc “Chương trình Phát triển Công nghiệp Quốc phòng Châu Âu” (European Defense Industrial Development Program - EDIDP) cùng với hơn 180 công ty tham gia từ các nước EU khác. Các dự án đó bao gồm: LOTUS (Chương trình chế tạo máy bay không người lái có khả năng tàng hình); DECISMAR (Hệ thống giám sát hàng hải nâng cấp); ESC2 (Hệ thống điều khiển và chỉ huy được cải tiến); PANDORA (Nâng cấp hệ thống bảo vệ an ninh mạng); SMOTANET (Mạng truyền thông nội bộ thế hệ tiếp theo).

Họ cũng sẽ tham gia vào một trong tám dự án nghiên cứu thuộc chương trình “Hành động Chuẩn bị trong Nghiên cứu Quốc phòng” (PADR) mang tên PRIVILEGE (Mã hóa Dữ liệu Quân sự Nhạy cảm).

Nói cách khác, các công ty quốc phòng Hy Lạp không chỉ cạnh tranh thành công với các đối tác lớn hơn nhiều mà còn đạt được sự hợp tác công nghiệp đáng kể với các công ty nhỏ hơn. Và sự hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng có giá trị vô giá đối với hệ sinh thái quốc phòng Hy Lạp.

Cũng trong năm đó, các công ty quốc phòng Hy Lạp đã ký hợp đồng lớn nhất cho đến nay. Trên thực tế, bốn công ty quốc phòng thuộc sở hữu tư nhân (Intracom Defense Electronics, EODH, Theon Sensors và Skytalis) đã ký các thỏa thuận mới vượt quá 255 triệu euro (330 triệu USD).

Con số đó kém hơn so với các hợp đồng xuất khẩu của các nước láng giềng của Hy Lạp là Thổ Nhĩ Kỳ và Israel, nhưng các công ty Hy Lạp này chắc chắn đã hoạt động rất tốt khi các công ty khác đã cân nhắc khả năng chống lại họ.

Giai ma su lot xac than ky cua quoc phong Hy Lap
Intracom Defense Electronics đã giành được các hợp đồng cung cấp thiết bị điện tử hàng không quốc phòng cho Tập đoàn Mỹ Northrop Grumman

Dữ liệu về các giao dịch của các công ty tư nhân Hy Lạp khác cho năm 2020 không được công bố. Tuy nhiên, theo danh mục của Hiệp hội các nhà sản xuất vật liệu quốc phòng Hellenic (ΣΕΚΠΥ), xuất khẩu của các công ty tư nhân khác đạt tổng cộng 54,5 triệu euro (78,59 triệu USD) trong năm 2019.

Tình hình ở các công ty nhà nước không còn sôi động nhưng vẫn tốt hơn nhiều so với những năm gần đây.

ΕΛΒΟ đã được bán đấu giá cho một tập đoàn của Israel sau ba nỗ lực tư nhân hóa không thành công kể từ năm 2015. EAΣ đã ghi nhận… không lỗ sau gần 17 năm (!) và EAB sẽ thu được lợi nhuận từ sự hợp tác ngày càng sâu sắc giữa Abu Dhabi và Αthens. ENAE, nhà máy đóng tàu quan trọng và gặp khó khăn nhất của Hy Lạp, cuối cùng đã được tư nhân hóa vào tháng 7 năm 2021 sau một nỗ lực kéo dài nhiều năm không được cứu trợ.

Sự ổn định của nền cong nghiệp quốc phòng Hy Lạp

Hệ sinh thái quốc phòng của Hy Lạp hiện bao gồm 80 công ty, tăng 22% so với năm ngoái. Hầu hết các công ty này thực hiện các dự án quân sự và dân sự như nhau, chỉ một nửa (bốn thuộc sở hữu nhà nước và 35 thuộc sở hữu tư nhân) thực hiện các hợp đồng duy nhất liên quan đến quốc phòng.

39 công ty này đã tuyển dụng 6.268 người vào năm 2019 và doanh thu hoạt động của họ lên tới 318 triệu euro (382 triệu đô la).

Các công ty này có thể được phân loại thêm như sau: 25 công ty nhỏ (<2 triệu euro doanh thu hàng năm), 11 công ty vừa và nhỏ (<50 triệu euro) và 3 công ty vừa (từ 50 triệu euro trở lên).

Theo một dấu hiệu về tình trạng của hệ sinh thái quốc phòng Hy Lạp, không một trong số 26 công ty này vượt quá 100 triệu euro doanh thu hàng năm. Điều này cho thấy quy mô chưa lớn của các doanh nghiệp quốc phòng nước này, nhưng ưu điểm là chúng còn rất nhiều tiềm năng phát triển.

Một điểm quan trọng duy nhất về hệ sinh thái quốc phòng của Hy Lạp đã được chỉ ra là phần lớn các doanh nghiệp này chuyên về các công nghệ mới của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (ví dụ như phòng thủ mạng máy tính hoặc máy bay không người lái).

Tương tự như máy tính, hầu hết các công ty này sản xuất phần mềm, chứ không phải phần cứng của hệ thống vũ khí. Bởi vì Hy Lạp có ý định nâng cấp mình thành một trung tâm chính cho những chuyên gia kỹ thuật số ở Balkan và Đông Địa Trung Hải. Ngoài ra, sự phát triển của hệ sinh thái khởi nghiệp ở Hy Lạp cũng có thể có tác động tích cực đến việc mở rộng ngành công nghiệp quốc phòng.

Như vậy, các công ty Hy Lạp đều có đà phát triển tốt và tương lai thị trường rộng mở. Ngoài ra, một nửa trong số các công ty Hy Lạp đều có khả năng sản xuất công nghiệp lưỡng dụng, giúp họ có thể sống sót khi một trong hai lĩnh vực gặp khó khăn.

Có thể nói rằng, hệ sinh thái quốc phòng của Hy Lạp, sau vài năm suy tàn, đã bước vào giai đoạn ổn định và phát triển thận trọng. Các ngành công nghiệp quốc phòng Hy Lạp hoặc cung cấp cho Lực lượng vũ trang của mình các loại vũ khí công nghệ cao được sản xuất trong nước hoặc ký các thỏa thuận xuất khẩu mới cho các sản phẩm của họ trong nửa đầu năm 2021.

Giai ma su lot xac than ky cua quoc phong Hy Lap
EODH SA cung cấp các hệ thống và gói bảo vệ tích hợp cho phương tiện chiến đấu và tất cả các loại nền tảng trên biển, trên không và trên bộ (sản phẩm của công ty tham gia tham gia Triển lãm Quốc phòng và An ninh Quốc tế DEFEA được tổ chức từ ngày 13-15/7/2021, tại Trung tâm Triển lãm Metropolitan Expo Athens)

Tương lai của ngành công nghiệp quốc phòng Hy Lạp

Chương trình tái vũ trang của Hy Lạp để đối phó với các hành động khiêu khích ngày càng tăng của Thổ Nhĩ Kỳ có thể vượt 11,5 tỷ euro vào năm 2025, sẽ cung cấp cho các ngành công nghiệp quốc phòng Hy Lạp các hợp đồng quân sự mới và quan trọng nhất là mở ra cánh cửa hợp tác giữa ngành công nghiệp quốc phòng Hy Lạp và nước ngoài.

Sự hợp tác như vậy với những gã khổng lồ quốc phòng phương Tây sẽ giúp các doanh nghiệp quốc phòng nước này lớn mạnh dần thêm, nhờ sự tham gia của hệ sinh thái quốc phòng Hy Lạp vào một phần ba chương trình vũ khí của EU.

Sự hợp tác đa diện như vậy có thể khắc phục một trong những căn bệnh mãn tính của hệ sinh thái quốc phòng Hy Lạp, đó là thiếu hụt ngân sách cho nghiên cứu và phát triển.

Một vấn đề khác, thực trạng ít gắn kết giữa công nghiệp quốc phòng và các trường đại học, viện nghiên cứu sẽ được cải thiện khi ngày càng có nhiều trường đại học bắt tay với các chương trình phục vụ các dự án quân sự, đáng chú ý nhất là máy bay không người lái.

Một lợi ích khác có thể nhìn thấy từ việc đàm phán các hiệp định quốc phòng với các đồng minh cả cũ và mới.

Ví dụ, UAE đã đầu tư lớn vào công ty ΕΑΒ trong bối cảnh hợp tác chiến lược giữa Athens và Abu Dhabi đang được nâng cao. Theo cách tương tự, Washington có thể cung cấp cho Athens những sự bù đắp quan trọng đối với việc sử dụng các căn cứ quân sự của Hy Lạp, ví dụ như đưa ngành công nghiệp quốc phòng Hy Lạp vào tổ hợp sản xuất F-35 Lightning II.

Tuy nhiên, tất cả những điều trên sẽ đòi hỏi ngành công nghiệp quốc phòng Hy Lạp phải xây dựng một chiến lược hợp lý và chặt chẽ.

Chương trình tái vũ trang khổng lồ sau cuộc Khủng hoảng Imia (Imia Crisis) năm 1996, trong đó hàng tỷ dollars bị lãng phí chỉ để vỗ béo ví của những tay cò vũ khí và chính trị gia, với lợi ích không đáng kể cho ngành công nghiệp quốc phòng Hy Lạp, là một lời nhắc nhở rõ ràng.

Giới chuyên gia cho rằng, với những định hướng và bước đi đúng đắn trong vài năm qua, ngành công nghiệp quốc phòng Hy Lạp có thể vươn lên top đầu của châu Âu sau 10 năm nữa.

Nguyễn Ngọc

Thứ Ba, 28/09/2021 13:33

Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện