TPP với TKV nặng nề hơn mưa lũ lịch sử Quảng Ninh

(Thị trường) - Hiện nay, từ giám đốc đến công nhân mỏ đều hiểu rằng, TPP đối với TKV còn nặng nề hơn đợt mưa bão gây ngập lụt vừa qua đối với Quảng Ninh.

Đó là nhận định của TS Nguyễn Thành Sơn, nguyên Trưởng ban Chiến lược Vinacomin trong bài viết đăng tải trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn về tác động của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đối với ngành than Việt Nam.

Lợi ích nhóm đang vận hành tối đa trong ngành than

Trong bài viết, TS Nguyễn Thành Sơn cho biết, trước ngưỡng cửa TPP, ngành than Việt Nam có những khó khăn không thể vượt qua.

Theo đó, khó khăn lớn nhất của ngành than là phải vượt qua chính bản thân mình cả về tư duy phát triển cũng như năng lực quản lý.

Tuy đã được các chuyên gia dự báo từ rất sớm về yêu cầu bắt buộc phải nhập khẩu than, đã được Chính phủ và Bộ Công thương giao nhiệm vụ rất rõ ràng và rất cụ thể về “đảm bảo cung cấp đủ than cho nền kinh tế”, nhưng các nhà quản lý, những người có trách nhiệm trong ngành than đến nay vẫn “bình chân như vại”, cho rằng than ở Việt Nam không thiếu, xuất khẩu được cứ xuất, sau này cần bao nhiêu cũng có, miễn giá bán than trong nước được Chính phủ chấp nhận bằng giá nhập khẩu than.

Thế nhưng, đến nay, nếu so sánh theo chất lượng, giá thành và giá bán, than trong nước đang cao hơn giá than nhập khẩu (theo điều kiện CFR) về đến cảng Hòn Nét (Quảng Ninh), Sơn Dương Vũng Áng (Hà Tĩnh), hay Phú Mỹ (Bà Rịa - Vũng Tàu). Ngành khai thác than của Việt Nam hiện đang có giá thành được hạch toán cao nhất thế giới.

TPP voi TKV nang ne hon mua lu lich su Quang Ninh
TPP sẽ vừa tạo thuận lợi, vừa gây khó khăn cho ngành than Việt Nam.

Khó khăn thứ hai là lợi ích nhóm đã được hình thành và đang được vận hành tối đa trong ngành than. Từ cuối năm 1994, tại buổi làm việc với Tỉnh ủy Quảng Ninh trên vịnh Hạ Long (trước khi tập đoàn Than và Khoáng sản - TKV - được thành lập), Tổng bí thư Đỗ Mười đã gạch đỏ các câu trong một bài viết được đăng trên tuần báo của Bộ Thương mại số ra ngày 14 đến 20/7/1994: “Có người đã nói đến việc Việt Nam phải nhập khẩu than. Khả năng đó không thể loại trừ”, “Nguy cơ ngập mỏ Mông Dương hiện nay sẽ không còn là điều khó xảy ra”, và “Chủ trương tổ chức lại ngành than theo hướng bỏ bộ chủ quản là cần thiết và đúng lúc”.

Cả ba dự báo quan trọng cách đây hơn 21 năm đã và đang xảy ra với ngành than. Trong đó, việc phải nhập khẩu than đang thực sự biến thành vấn đề mất an ninh về năng lượng của đất nước và việc ngập mỏ Mông Dương đã cho thấy sự bế tắc trong phát triển của ngành than ngày càng rõ.

"Đó là hậu quả của việc lợi ích nhóm đã được đặt lên cao hơn lợi ích của cả nền kinh tế", TS Nguyễn Thành Sơn khẳng định.

Hy vọng từ TPP

TS Nguyễn Thành Sơn dùng cụm từ "gió đã đổi chiều" khi nói về thị trường xuất nhập khẩu than ở Việt nam. Nếu trước đây, ngay khi TKV vừa được thành lập, xuất khẩu than đã trở thành cứu cánh, mọi nguồn than đều hướng đến xuất khẩu thì năm 2014, Việt Nam đã nhập khẩu khoảng 3,1 triệu tấn than (than năng lượng khoảng 2,6 triệu tấn, than mỡ khoảng 0,5 triệu tấn). Tổng giá trị than nhập khẩu gần 364 triệu USD.

"Tín hiệu đáng mừng là mặc dù chưa có sự can thiệp, hay định hướng của các cơ quan quản lý, các doanh nghiệp tư nhân đã nhanh nhạy trong việc đa dạng hóa nguồn nhập khẩu than", ông Sơn viết.

Trong năm 2014, các sản phẩm của than được nhập về Việt Nam từ 17 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong đó, sản phẩm than năng lượng là chủ yếu và được nhập từ năm nguồn lớn, lần lượt gồm Indonesia (1,567 triệu tấn), Úc (0,543 triệu tấn), Trung Quốc (0,474 triệu tấn), Nga (0,249 triệu tấn) và Malaysia (0,225 triệu tấn). Các sản phẩm than khác còn được nhập về Việt Nam từ Bỉ, Canada, Anh, Đức, Mỹ...

Đã có tới hơn 120 doanh nghiệp tham gia nhập khẩu than. Trong đó, có hai doanh nghiệp nhà nước khai thác than hàng đầu của Việt Nam là Tổng công ty Đông Bắc (nhập 51.151 tấn, chiếm 1,6% thị phần và xếp thứ 14) và Vinacomin (nhập 41.502 tấn, chiếm 1,3% thị phần và xếp thứ 15).

Hai doanh nghiệp nhập khẩu lớn nhất là thép Formosa (nhập 960.466 tấn, chiếm thị phần 31%) và thép Hòa Phát (nhập 602.227 tấn, chiếm thị phần 19,4%). Trong tương lai, việc nhập khẩu than của Formosa sẽ tiếp tục dẫn đầu.

TS Nguyễn Thành Sơn nhấn mạnh, về lâu dài, việc nhập khẩu than với khối lượng lớn sẽ không đơn giản. Nhu cầu nhập khẩu đến năm 2030 sẽ lớn gấp 25 lần khối lượng thực hiện năm 2014. Hy vọng, với sự khởi đầu tương đối nhanh nhạy của các doanh nghiệp tư nhân như hiện nay, sau khi TPP có hiệu lực, ngành than Việt chuyển dần từ khu vực nhà nước - bao cấp sang khu vực thị trường đúng nghĩa.

Lược theo Thời báo Kinh tế Sài Gòn

Thứ Hai, 26/10/2015 07:16

Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện