Thành tích xuất siêu: Việt Nam làm gia công triệt để

(Thị trường) - Việt Nam cứ hô tái cơ cấu kinh tế nhưng cứ chìm đắm sản xuất hàng giá trị gia tăng thấp, tham gia những khâu yếu kém như gia công, lắp ráp.

PGS.TS Nguyễn Văn Nam, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại thẳng thắn chỉ ra mặt trái thành tích xuất siêu của Việt Nam với Đất Việt.

PV: - Năm 2014, Việt Nam giữ vững thành tích xuất siêu 3 năm liên tiếp. Theo Tổng cục thống kê, tính chung 11 tháng năm nay, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 137 tỷ USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 44,8 tỷ USD, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 92,2 tỷ USD. Ông đánh giá thế nào về bức tranh kinh tế Việt Nam qua thành tích xuất siêu này? Nó phản ánh điều gì?

PGS.TS Nguyễn Văn Nam: - Dù xuất siêu chưa lớn lắm nhưng cũng ghi nhận thành công nhất định của Việt Nam khi từ chỗ nhập siêu nhiều năm đã chuyển sang xuất siêu.

Tuy nhiên, thành tích xuất siêu của Việt Nam thiếu bền vững, ở chỗ: vẫn còn một số tháng phải nhập siêu (ví dụ tháng 7, 9, 10/2014...); xuất siêu nằm ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), còn khu vực trong nước vẫn nhập siêu rất lớn. Điều này chứng tỏ nền sản xuất trong nước rất yếu kém và lệ thuộc vào nguồn nguyên liệu, máy móc, thiết bị, phụ tùng... nước ngoài.

Về thị trường, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với gần 40 tỷ USD trong 11 tháng năm 2014 trong khi xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường này chỉ đạt 13,5 tỷ USD vào cùng thời điểm.

Như vậy, nhập siêu của Việt Nam bị lệ thuộc vào một thị trường, chỉ cần thị trường này "hắt hơi, sổ mũi" là Việt Nam chết luôn, như người ta vẫn cảnh báo đừng bỏ trứng vào một giỏ.

Một điểm thiếu bền vững khác, đó là những mặt hàng nước ta nhập chủ yếu là thiết bị máy móc dụng cụ phụ tùng, vải, nguyên phụ liệu dệt may, giày dép... phục vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu. Do đó, nếu có trục trặc lập tức sẽ ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam. Đó là chưa kể nó sẽ hạn chế việc thực hiện các hiệp định Việt Nam sắp ký.

Đơn cử như Hiệp định Hợp tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) mở ra một số ưu đãi cho Việt Nam về thuế nhập khẩu nhưng lại đòi hỏi xuất xứ nguyên phụ liệu sản xuất phải ở trong khối hoặc của Việt Nam. Trong khi đó, Việt Nam lại nhập đến 70-80% nguyên liệu từ những nước nằm ngoài khối TPP như Trung Quốc. Như vậy, rõ ràng, hàng Việt Nam nằm trong diện hưởng ưu đãi nhưng lại không được hưởng.

Sự không bền vững này Việt Nam đã nhìn thấy từ rất lâu nhưng lại ì ạch, không khắc phục được. Ngay như việc nhập siêu từ Trung Quốc, dù đã hô hào nhiều lần rằng phải đa dạng hoá  thị trường, tránh phụ thuộc quá lớn vào một thị trường nhưng đâu vẫn hoàn đấy, thậm chí trong 11 tháng qua nhập siêu của Việt Nam từ quốc gia này còn tăng 18,9% so với cùng kỳ năm ngoái, chứng tỏ Nhà nước và doanh nghiệp chưa có biện pháp gì để chống nhập siêu từ Trung Quốc.

Việt Nam đang triệt để gia công cho nước ngoài
Việt Nam đang triệt để gia công cho nước ngoài

PV: - Ở chiều ngược lại, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu 11 tháng năm nay ước tính đạt 135 tỷ USD,  khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 76,7 tỷ USD; khu vực kinh tế trong nước đạt 58,3 tỷ USD. 

Các loại hàng hoá nhập khẩu như máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng, nguyên phụ liệu dệt may, giày dép, vải, chất dẻo... trong 11 tháng đều có mức tăng cao so với cùng kỳ năm trước và chủ yếu phục vụ cho khu vực FDI. Đây có phải là minh chứng cho nền sản xuất gia công toàn diện? Việt Nam nhận được gì từ nền sản xuất này?

PGS.TS Nguyễn Văn Nam: - Việt Nam cứ hô tái cơ cấu nền kinh tế nhưng chẳng tái nổi mà cứ chìm đắm trong một cơ cấu cũ khi sản xuất hàng giá trị gia tăng thấp, tham gia vào những khâu rất yếu kém trong chuỗi giá trị hàng hoá như gia công, lắp ráp.

Đến nay, Việt Nam vẫn không thay đổi chính sách để khuyến khích khu vực FDI đầu tư công nghệ cao mà chỉ là khai thác lao động giá rẻ, tài nguyên của Việt Nam. Việt Nam đang làm gia công triệt để cho nước ngoài. Ngay cả một ngành lớn như chăn nuôi, nông dân nhiều như thế nhưng người ta cũng chỉ nuôi gia công cho các doanh nghiệp nước ngoài, nhập khẩu tất tật mọi thứ từ giống, thức ăn đến dây chuyền công nghệ. 

Tất nhiên Việt Nam cũng thu được tý chút lợi ích từ nền sản xuất này, nhất là tạo được công ăn việc làm cho người lao động, kiếm được chút giá trị gia tăng, Nhà nước cũng thu được một ít thuế song tất cả đều quá nhỏ nhoi so với những gì các doanh nghiệp FDI làm ra.

Chưa nói chuyện ưu đãi nhiều hay ít cho doanh nghiệp FDI bởi giai đoạn đầu phải có ưu đãi để các doanh nghiệp vào nhiều nhưng đến bây giờ, họ đã có lực lượng đủ mạnh thì phải có sự bình đẳng giữa doanh nghiệp nước ngoài với doanh nghiệp trong nước. Nhà nước cũng đã nhận thức được vấn đề này khi ra luật Đầu tư chung nhưng trên thực tế, việc thực hiện chính sách chưa có sự bình đẳng, vẫn ưu đãi bên kia chặt chẽ bên này. Ngoài ra, lẽ ra Nhà nước phải hỗ trợ để hình thành những doanh nghiệp đầu đàn trong từng ngành sản phẩm nhưng chúng ta cũng chưa làm được điều này.

PV: - Theo Tổng cục Thống kê, trong 11 tháng, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu ở mức khá cao với 15,54 tỷ USD, khu vực trong nước tiếp tục nhập siêu với 13,48 tỷ USD. Những con số này thể hiện điều gì, thưa ông? 

PGS.TS Nguyễn Văn Nam: - Những con số này cho thấy hệ thống doanh nghiệp nội địa của Việt Nam nhỏ lẻ và cực kỳ yếu kém, mấy chục năm rồi không lớn lên được mà ngày càng teo tóp đi. Bây giờ, các doanh nghiệp trong nước đều ngưng trệ sản xuất và đó là mối hoạ cực lớn đối với nền kinh tế Việt Nam. Nhiều doanh nghiệp trước đây của Việt Nam tưởng làm ăn khá nhưng giờ cũng không trụ nổi, phải bán cho nước ngoài, ví dụ như Công ty Kinh Đô đã bán 80% cổ phần mảng kinh doanh bánh kẹo cho tập đoàn Mondelēz International. 

PV: - Nhìn tổng quan, sản xuất hàng xuất khẩu chủ yếu từ doanh nghiệp FDI, xuất khẩu chủ yếu xuất thô, đáp ứng nhu cầu trong nước là các tập đoàn đa quốc gia. Phải nhìn nhận tín hiệu báo động này đối với nền kinh tế Việt Nam như thế nào, đặc biệt khi thời điểm hội nhập hoàn toàn theo các thỏa thuận kinh tế đang tới gần?

PGS.TS Nguyễn Văn Nam: - Những tài nguyên, nguồn lực của Việt Nam doanh nghiệp FDI dùng được thì dùng, còn doanh nghiệp trong nước không sử dụng được, không phát huy được cho nên chỉ để xuất khẩu và đua nhau xuất, từ Trung ương đến tỉnh. Sắn Việt Nam cứ thái lát mà xuất thô, cao su chỉ xuất mủ, cao su sơ chế, quặng, than cũng xuất dài ra giờ lại phải nhập... Hệ thống sản xuất, chế biến nội địa của Việt Nam đã đi vào thời kỳ quá yếu, nếu tiếp tục duy trì tình trạng này thì nền kinh tế Việt Nam nay mai chỉ là nền kinh tế lệ thuộc mà thôi.

Điều này cực kỳ nguy hiểm bởi khi hội nhập Việt Nam mở ra quá nhiều, doanh nghiệp trong nước càng sa sút, càng không cạnh tranh nổi và lúc ấy chỉ có cách bán xới mà thôi. 

PV: - Theo đồng hồ nợ công toàn cầu trên trang The Economist.com, tính đến 9 giờ ngày 14/10, nợ công của Việt Nam ở mức trên 84,607 tỉ USD. Bình quân nợ công theo đầu người là 933,41 USD/người. Nợ công chiếm 47,3% GDP, tăng 10,6% so với năm 2013. Báo cáo của Bộ Tài chính cho hay, nợ công đến cuối năm 2014 khoảng 60,3% GDP và dự kiến đỉnh nợ sẽ vào năm 2016 với khoảng 64,9% GDP.

Thưa ông, Việt Nam sẽ trả nợ bằng cách nào khi chỉ là nơi gia công để tận dụng giá công nhân rẻ mạt trong khi doanh nghiệp trong nước không được chuyển giao công nghệ, không làm được những công đoạn đơn giản nhất? Liệu người dân Việt Nam có phải làm thuê trên chính đất nước mình hay không?

PGS.TS Nguyễn Văn Nam: - Cứ ưu đãi, giảm thuế cho doanh nghiệp nước ngoài mà chẳng thu về được bao nhiêu, còn doanh nghiệp trong nước để chết thì Việt Nam sẽ chẳng thể trả được nợ công, thậm chí chi tiêu thường xuyên còn chẳng đủ. Thông thường khi vỡ nợ, các nước đều phá sản hết, còn Việt Nam trầy da tróc vảy thế nào tôi cũng chưa rõ. Đến lúc ấy có lẽ lao động Việt Nam đi làm thuê cũng chưa chắc có ai thuê.

Nếu Việt Nam vay tiền của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) để trả nợ thì nguy cơ bị tổ chức này áp đặt các chính sách như thắt chặt chi tiêu, giảm lương cơ bản, giảm lương hưu... là rõ ràng, sau cùng người dân sẽ phải gánh chịu hết.

Thành Luân

Thứ Năm, 25/12/2014 15:57

Sự Kiện