Lạm phát năng lượng Mỹ: Do chính sách hay hẹp dư địa?

(Thị trường) - Giá nhiên liệu trên thế giới đều tăng nhưng áp lực ở Mỹ lớn hơn ở các quốc gia không tăng trưởng dưa trên nợ vay, khiến chính phủ Mỹ không thể...

Tổng thống Biden bị chỉ trích gây lạm phát năng lượng Mỹ

1. Ngày 9/9, phát biểu trên chương trình “Mornings with Maria” của Fox Business, Thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa John Barrsasso cho biết ông rất kinh ngạc về cách tiếp cận của chính quyền Tổng thống Biden với ngành công nghiệp năng lượng Mỹ.

Theo vị Thượng nghị sĩ đến từ tiểu bang Wyoming, cách tiếp cận "đáng kinh ngạc" ấy của chính quyền Mỹ nhiệm kỳ 58 đã tác động tiêu cực đến ví tiền của người dân, vì nó làm cho giá nhiêu liệu liên tục tăng cao.

“Ngay sau khi nhậm chức, Tổng thống Joe Biden đã giáng một đòn rất đau vào công nghiệp năng lượng Mỹ: khai tử dự án dẫn dầu Keystone XL, ra lệnh cấm cho thuê giàn khoan trên các khu đất công, bóp nghẹt công nghiệp năng lượng tại Alaska.

Và điều gì đã xảy ra? Chúng ta đang nhìn thấy tình trạng lạm phát năng lượng: Mọi người cần 25 USD hoặc nhiều hơn để đổ xăng đầy bình xe của mình. Làm điều như vậy mỗi tuần, bạn sẽ mất 1.000 USD và hơn thế nữa từ khoản tiền lương của mình.

Vậy Nhà Trắng đã làm được gì? Đáng kinh ngạc là họ đã cầu xin OPEC+ sản xuất nhiều năng lượng hơn để bán cho chúng ta. Thông tin này ở đâu ra? Nhà Trắng đã đăng tải điều này trên website chính thức vào tháng trước. Thật không thể hiểu nổi.

Tại sao chúng ta không sản xuất mà phải mua từ Ả-rập Saudi và Nga? Tại sao chúng ta bán cơ hội lao động ra nước ngoài? Tại sao chúng ta làm suy yếu tính toàn vẹn của ngành năng lượng? Tại sao lại tăng giá? Những điều này đáng kinh ngạc với tôi”.

Lam phat nang luong My: Do chinh sach hay hep du dia?
Thượng nghị sĩ John Barrsasso

2. Thượng nghị sĩ Barrasso đưa ra những cật vấn về chính sách năng lượng của chính quyền Tổng thống Biden trong bối cảnh xăng bán lẻ ở Mỹ có giá đắt nhất kể từ năm 2014, đánh nặng vào ví tiền của người tiêu dùng Mỹ.

Theo dữ liệu của Hiệp hội Ô tô Mỹ, giá xăng thường tại Mỹ đã ở mức trên dưới 4 USD/gallon, trong đó California là nơi có giá bán đắt nhất, khoảng 4,39 USD/gallon. Hawaii và Nevada cũng là những nơi đắt đỏ với giá khoảng 4 USD/gallon.

Trước khi Thượng nghị sĩ John Barrasso "kinh ngạc" với chính sách năng lượng của chính quyền Tổng thống Biden, Thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa John Cornyn đến từ bang Texas cũng bày tỏ thất vọng về thực trạng này, nhất là việc cầu cứu OPEC+.

Trước đó, ngày 11/8, Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ Jake Sullivan đã kêu gọi các nước tham gia cơ chế trong-ngoài OPEC tăng mạnh khai thác dầu để kiềm chế đà tăng giá nhiên liệu mà Mỹ cho là “có nguy cơ cản trở phục hồi kinh tế toàn cầu”.

Tuy nhiên, theo dữ liệu của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), cho thấy các thành viên OPEC+, trong tháng 7/202, đã tăng sản lượng gần gấp đôi mức thỏa thuận, đạt mức 720.000 thùng/ngày, đẩy sản lượng dầu thế giới tăng thêm 1,7 triệu thùng/ngày.

Đáng chú ý là 60% sản lượng khai thác dầu của thế giới tăng là đến từ Mỹ. Theo các chuyên gia của IEA, sản lượng trung bình của Mỹ từ tháng 1/2021 đến tháng 5/2021 là 11,10 triệu thùng/ngày, đưa Mỹ trở thành nhà sản xuất dầu lớn nhất thế giới.

Lạm phát năng lượng Mỹ do chính sách sai hay hẹp dư địa?

1. Thượng nghị sĩ Barrasso chỉ trích chính quyền Tổng thống Biden cầu cứu OPEC+ tăng sản lượng, trong khi đó lại khai tử dự án dẫn dầu Keystone XL, cấm cho thuê giàn khoan khi trên đất và vùng biển, bóp nghẹt công nghiệp năng lượng tại Alaska.

Như vậy, theo vị thượng nghị sĩ bang Wyoming, chính quyền Mỹ nhiệm kỳ 58 đã làm những điều bất hợp lý, gây thiệt hại cho ngành năng lượng Mỹ nói riêng, gây thiệt hại cho cả nền kinh tế Mỹ nói chung.

Điều đó có nghĩa chính sách của chính quyền Tổng thống Biden là sai lầm, theo quan điểm của Thượng nghị sĩ John Barrasso - và cả Thượng nghị sĩ John Cornyn. Tuy nhiên, theo giới phân tích thì chưa hẳn như vậy.  

Xin nhắc lại, hồi tháng 1/2021, Tổng thống Biden đã ra quyết định về việc tạm dừng cấp phép khoan dầu mới và tạm ngừng đấu thầu cho thuê giàn khoan dầu để chờ các phân tích đánh giá tác động môi trường từ hoạt đồng khai thác dầu.

Đây chỉ là biện pháp tạm thời, nhưng bị cho là sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế và có thể đưa nước Mỹ quay trở lại kỷ nguyên nhập khẩu ròng dầu. Bởi hiện tỷ trọng dầu thô khai thác trên đất/biển liên bang chiếm tới 22% sản lượng của Mỹ.

Lam phat nang luong My: Do chinh sach hay hep du dia?
Mỹ vẫn là nước khai thác dầu lớn nhất thế giới

1. Quyết định tạm dừng cấp phép khoan dầu mới và tạm ngừng đấu thầu cho thuê giàn khoan đã dẫn đến việc chấm dứt Dự án xây dựng đường ống dẫn dầu Keystone XL trị giá 8 tỷ USD, vốn gây tranh cãi từ năm 2015 vì vấn đề môi trường.

Dự án đường ống dẫn dầu Keystone XL dài khảng 1.900 km, với công suất thiết kế vận chuyển tới 830.000 thùng dầu thô/ngày từ tỉnh Alberta và Montana của Canada đến các cơ sở lọc hóa dầu ở bang Nebraska của Mỹ.

Thống đốc Alberta Jason Kenney cho biết: “Chúng tôi thất vọng và rất thất vọng với những vấn đề xung quanh dự án Keystone XL, bao gồm việc hủy bỏ giấy phép của Tổng thống Biden về việc cho đường ống đi qua biên giới”, theo Oilprice.com.

Trong khi đó, Điều phối viên hàng đầu về chính sách khí hậu của Tổng thống Biden, Gina McCarthy, cho hay: "Bất kể lợi ích nào mà dự án Keystone mang lại thì cũng cần phải được xem xét lại với tình hình kinh tế hiện nay".

Không còn dự án Keystone XL, Mỹ vẫn phụ thuộc vào nguồn cung dầu từ Canada, bởi hơn một nửa lượng dầu nhập khẩu đến từ quốc gia này. Mặt khác, một số dự án đường ống dẫn dầu thô giữa Canada và Mỹ vẫn đang trong quá trình mở rộng.

2. Quyết định tạm ngừng đấu thầu cho thuê giàn khoan mới khiến bang Alaska có thể mất đi 16,8 tỷ thùng trong số 23,3 tỷ thùng dầu và khí ngưng tụ còn lại của Alaska, theo Rystad Energy - nhà phân tích và tư vấn trong lĩnh vực năng lượng tái tạo Mỹ.

Rystad Energy ước tính khoảng 72% tài nguyên dầu mỏ có thể khai thác còn lại của bang Alaska có thể sẽ nằm lại trong lòng đất, dù ảnh hưởng của điều này sẽ chỉ được cảm nhận sau năm 2030.

Đáng lưu ý là ngành công nghiệp dầu khí đã mang đến khoảng gần 80% thu nhập của bang Alaska trong năm 2019. Vì vậy, mất đi lượng dầu với quy mô này rõ ràng sẽ có tác động to lớn đến tài chính của tiểu bang.

Trong chiến lược năng lượng, chính quyền Tổng thống Biden đã đề ra mục tiêu khử cacbon, giảm sự phụ thuộc của nước Mỹ vào dầu khí, hạn chế các chất gây ô nhiễm không khí. Phần lớn nguồn cung năng lượng của Mỹ vẫn đến từ nhiên liệu hóa thạch.

Chính quyền Tổng thống Biden lập luận rằng phải cải cách chương trình cho thuê đất khai thác dầu bởi chính quyền Tổng thống Trump không rà soát kỹ các khu vực cho thuê khiến nhiều hợp đồng bị hủy bỏ, cản trở tối đa hóa sản xuất nhiên liệu hóa thạch.

Lam phat nang luong My: Do chinh sach hay hep du dia?
Nhưng giá dầu tăng thì áp lực tại Mỹ lại lớn hơn ở các nước khác 

Theo các chuyên gia dầu khí Mỹ, chính phủ Mỹ có thể áp dụng Đạo luật Chính sách Môi trường Quốc gia (NEPA), từ đó yêu cầu các cơ quan liên bang phải đánh giá tác động môi trường của các dự án khoan thăm dò và khai thác dầu.

Như vậy, chính sách năng lượng của chính quyền Tổng thống Biden phù hợp với cả tình hình thực tế và yếu tố lịch sử, phù hợp với luật pháp nhà nước Mỹ quy định về phát triển năng lượng. Vậy thì đâu có phải là chính sách sai.

3. Rõ ràng, diễn biến về giá nhiên liệu trên thị trường Mỹ là nằm ngoài khả năng tác động bởi chính sách năng lượng của chính quyền Tổng thống Biden - và cả chính quyền Trump. Có thể nhận diện đây là hậu quả từ dư địa hoạch định chính sách hẹp.

Điều này xuất phát từ mô hình kinh tế Mỹ tăng trưởng dựa trên nợ vay, khiến cho tài chính doanh nghiệp gặp khó nếu muốn hỗ trợ chi tiêu dùng, còn tài chính công thì gặp khó khi hỗ trợ tài chính doanh nghiệp.

Đơn giản là chi tiêu của các thực thể trong nền kinh tế Mỹ, luôn là C+c. Trong đó C là nguồn chi, còn c là lãi vay. Nghĩa là từ tài chính công đến tài chính doanh nghiệp và chi tiêu dùng, khoản chi luôn bao gồm : Tiền tự có + tiền đi vay + lãi vay.

Trong khi tài chính doanh nghiệp không nhận được nhiều sự hỗ trợ từ tài chính công, nếu doanh nghiệp hỗ trợ chi tiêu dùng bằng cách giảm giá bán là sẽ đối mặt ngay với nguy cơ lỗ, vì tỷ lệ Nợ vay/Vốn tự có, luôn rất lớn, nên lãi vay lớn.

Vì vậy, dù giá nhiên liệu trên thế giới đều tăng nhưng áp lực ở Mỹ lớn hơn ở các quốc gia không tăng trưởng dưa trên nợ vay. Điều này khiến chính phủ Mỹ không thể đảm bảo trung hòa giữa kinh tế xã hội và kinh tế tài chính, giữa môi trường và năng lượng.

Ngọc Việt

Thứ Hai, 13/09/2021 18:46

Sự Kiện