Doanh nghiệp áp lực lên ngân hàng: Để không thành con tin...

(Tài chính) - Chuyên gia Trịnh Đoàn Tuấn Linh chỉ ra những vấn đề trong quyền lực của khách hàng lớn và cách ngân hàng giảm áp lực của khách hàng thế nào.  

Báo cáo kết quả triển khai các giải pháp tiền tệ, tín dụng ngân hàng hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó với dịch Covid-19, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, đề cập đến những khó khăn đang phải đối mặt, Ngân hàng Nhà nước cho biết: Nhiều doanh nghiệp đã phát sinh nợ quá hạn vì kinh doanh thua lỗ xuất phát từ các nguyên nhân chủ quan trước khi dịch bệnh xảy ra, không đủ điều kiện để các tổ chức tín dụng thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ theo Thông tư 1/2020/NHNN-TT nhưng vẫn liên tục kiến nghị đến ngành ngân hàng, tạo áp lực cho hoạt động của các tổ chức tín dụng.

Trao đổi với Đất Việt, chuyên gia kinh tế-tài chính Trịnh Đoàn Tuấn Linh cho biết, tình trạng doanh nghiệp thua lỗ gây áp lực lên ngân hàng và ngân hàng khó xử không phải đợi đến khi có dịch bệnh Covid-19 mới xảy ra mà luôn là vấn đề đau đầu của các ngân hàng thương mại.

Thậm chí, trong giới doanh nghiệp còn có câu: Nếu nợ ít thì bạn sợ ngân hàng, còn khi nợ cả núi tiền thì ngân hàng phải sợ bạn. Bản thân doanh nghiệp và ngân hàng ý thức được điều này. Khi doanh nghiệp làm ăn tốt sẽ mang lại doanh thu, lợi nhuận cho ngân hàng và doanh nghiệp sử dụng chính điều này để gây áp lực cho ngân hàng.

"Doanh nghiệp biết mình là khách hàng lớn, có khi họ đem hồ sơ vay đến một số ngân hàng khác nữa để các ngân hàng giành giật lấy mình, từ đó doanh nghiệp có được những ưu đãi tốt nhất. Đó là quyền lực của khách hàng lớn và khi xảy ra rủi ro, một lần nữa họ sử dụng quyền lực ấy để gây sức ép cho ngân hàng, buộc ngân hàng phải cơ cấu nợ, cho họ vay tiền, nếu không sẽ xảy ra tình trạng "trạng chết, chúa cũng băng hà", ông Linh chia sẻ và cho biết trên thực tế, câu chuyện này ở Việt Nam xảy ra rất nhiều, khi khách hàng lớn có vấn đề gì sẽ gây ảnh hưởng, thậm chí có thể làm "chết" cả một chi nhánh ngân hàng.

Áp lực đó, cộng với tình trạng thủ tục, chứng từ, hóa đơn... ở Việt Nam chưa được chuẩn chỉnh như các nước phát triển dẫn đến việc nhân viên ngân hàng, đôi khi vì áp lực chỉ tiêu, tiến hành hợp thức hóa hồ sơ chưa hợp lệ, tìm cách để chiều khách hàng.

Doanh nghiep ap luc len ngan hang: De khong thanh con tin...
Doanh nghiệp thua lỗ gây áp lực lên ngân hàng luôn là vấn đề đau đầu của các ngân hàng thương mại

"Tại nhiều chi nhánh, đơn vị kinh doanh của ngân hàng thương mại, có những khách hàng chiếm tới 50-60% tổng dư nợ của chi nhánh đó. Như vậy, nếu mất đi khách hàng đó, chi nhánh ngân hàng bị giảm khoảng 50% thị phần dư nợ, đồng nghĩa với giảm khoảng 50% lợi nhuận, chưa kể nhiều vấn đề khác xảy ra như thành  tích thi đua, chỉ tiêu bị ảnh hưởng...

Vì lẽ đó, để giữ khách hàng và cũng để không xảy ra rủi ro nói trên, lãnh đạo chi nhánh thường có xu hướng bảo vệ khách hàng đó nhiều hơn, "sợ" khách hàng đó nhiều hơn và đôi khi lấp liếm những điều không tốt khách hàng làm", chuyên gia Trịnh Đoàn Tuấn Linh chỉ rõ.

Khi dịch bệnh Covid-19 xảy ra, ngân hàng lại rơi vào tình huống khó xử hơn. Theo ông Linh, văn bản hướng dẫn cơ cấu nợ của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã quy định rõ doanh nghiệp nào được cơ cấu nợ, doanh nghiệp nào không.

Ví dụ, doanh nghiệp kinh doanh bị ảnh hưởng bởi Covid-19 thì mới cơ cấu, còn không có dịch, doanh nghiệp gặp khó khăn muốn ngân hàng cơ cấu thì Ngân hàng Nhà nước không đồng ý và ngân hàng thương mại cũng không dám làm. Thế nhưng, doanh nghiệp không hiểu hoặc cố tình không hiểu chuyện đó, gây áp lực lên ngân hàng khiến ngân hàng rất khó xử.

"Ngân hàng khó xử vì phải phân loại khách hàng: có khách hàng có khó khăn mà không chứng minh được; có khách hàng lại không chứng minh được thiệt hại do dịch.

Nếu không cơ cấu nợ cho doanh nghiệp, để thành nợ xấu thì ngân hàng "mệt", mà cơ cấu nợ cho doanh nghiệp thì buộc ngân hàng phải vi phạm quy định của Ngân hàng Nhà nước, kèm theo đó là  thanh tra, kiểm toán... Chưa kể tiền gốc của khách hàng ngân hàng có thể chậm, nhưng lãi vẫn phải trả cho khách hàng.

Một điều khác, tiền ngân hàng cho vay ra thì trong đó vốn tự có của ngân hàng chiếm đâu đó chỉ khoảng 5-10%, còn 90-95% là tiền gửi của khách hàng, tiền đó ngân hàng phải trả lãi hàng ngày, hàng giờ, không được giảm đồng nào. Do đó, chỉ cần cơ cấu nợ mà đối tượng nhiều một chút đã khiến ngân hàng thiệt thòi rất lớn. Khi dịch Covid-19 xảy ra ra, ngân hàng gặp nhiều khó khăn trong kinh doanh, dịch vụ, doanh số giảm, lãi suất giảm, lại thêm cơ cấu nợ... tất cả khiến thiệt hại của ngân hàng không phải là nhỏ", ông Linh phân tích.

Để ngân hàng không trở thành "con tin" của doanh nghiệp, vị chuyên gia cho rằng mấu chốt nằm ở câu chuyện quản trị rủi ro của ngân hàng. Ngân hàng nào mà mô hình quản trị rủi ro không theo kịp thời đại thường bị ảnh hưởng nhiều và hay xảy ra tình trạng chiều doanh nghiệp hơn, thậm chí lấp liếm đi những sai sót của khách hàng do vốn vay khách hàng đó chiếm tỷ lệ lớn trong tổng dư nợ của ngân hàng.

Ngược lại, những ngân hàng lớn, quả trị rủi ro theo mô hình tiên tiến và tiêu chuẩn quốc tế không để tình trạng trên xảy ra, nếu có thì họ cũng xử lý dễ hơn.

"Ngân hàng sẽ không cho phép dư nợ của một doanh nghiệp chiếm thị phần quá lớn trong tổng quy mô của chi nhánh ngân hàng.

Ví dụ, thay vì cho khách hàng vay chiếm tới 50% tổng dư nợ của chi nhánh khiến chi nhánh luôn nơm nớp "sợ" khách hàng thì ngân hàng chỉ cho mỗi khách hàng vay không quá 5-10% tổng dư nợ. Nếu một khách hàng xảy ra rủi ro thì ngân hàng cũng không quá lo ngại và bản thân ngân hàng cũng ít bị rủi ro hơn", chuyên gia Trịnh Đoàn Tuấn Linh cho biết.

Thành Luân

Thứ Năm, 14/05/2020 07:10

Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện