Đề xuất đưa lãi suất VND về 0% không khả thi?

(Tài chính) - Chuyên gia lo ngại, lãi suất VND dần về 0% sẽ khiến người dân rút tiền khỏi ngân hàng, đầu tư vào bất động sản, chứng khoán, vàng, tiền kỹ thuật số...

Hiệp hội Các nhà đầu tư tài chính (VAFI) vừa đề xuất hạ dần lãi suất tiền gửi VND dần về mức 0%, chính sách được nhiều nền kinh tế phát triển áp dụng.

Theo VAFI, lãi suất tiền gửi 0% bảo đảm lãi suất cho vay cực thấp (2-5%), qua đó kích thích hệ thống doanh nghiệp và thị trường chứng khoán phát triển, bảo đảm an sinh xã hội cho người thu nhập thấp và trung bình mua nhà ở, tiêu dùng với lãi suất tín dụng cực thấp.

Tuy nhiên, đề xuất này của VAFI được nhiều chuyên gia tài chính-ngân hàng đánh giá là thiếu cơ sở và không khả thi.

Trên báo Pháp luật Việt Nam, TS Cấn Văn Lực, chuyên gia kinh tế trưởng BIDV đưa ra 5 lý do chính để khẳng định điều này.

Một là, so sánh lãi suất danh nghĩa quốc tế như vậy là khập khiễng bởi lẽ mức độ rủi ro của Việt Nam cao hơn so với đa số các nước trong khu vực, trong mẫu so sánh (thí dụ, Việt Nam xếp hạng BB theo S & P (Mỹ) trong khi đó của Indo, Phil là BBB, Thái Lan (BBB+), Malaysia (A-), Trung Quốc (A+), Hàn Quốc (AA), Singapore (AAA)…v.v. Theo quy luật kinh tế - tài chính, rủi ro cao thì lãi suất phải cao hơn (để bù đắp rủi ro đó).

Vì thế, hiện nay doanh nghiệp Việt Nam đi vay vốn nước ngoài bằng USD trung hạn (1-5 năm), bên cho vay hoặc mua trái phiếu thường yêu cầu lãi suất USD từ 3-6%/năm, tùy thuộc vào thời hạn và mức độ rủi ro, tiềm năng của doanh nghiệp đó cũng như bản thân dự án đầu tư.

Ông lưu ý rằng, khi các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế (như S&P, Moody’s) xếp hạng mỗi quốc gia hay doanh nghiệp tại quốc gia đó, họ đã tính đến hầu hết các tiêu chí mà đề xuất đã nêu như chính trị ổn định, tăng trưởng kinh tế, ổn định vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế, hệ thống tài chính – ngân hàng, tiềm lực trả nợ...

Hai là, lạm phát Việt Nam cao hơn nhiều so với quốc tế và khu vực. Năm 2020 chẳng hạn, CPI của Việt Nam là 3,2% trong khi toàn cầu là 2%, Trung Quốc 2,5% và ASEAN-4 là 1%. Năm nay, dự báo lạm phát của Việt Nam có thể khoảng 3,5%, trong khi toàn cầu khoảng 2,8%, Trung Quốc 1,8% và ASEAN-4 khoảng 2%.

Chính vì vậy, người dân có kỳ vọng gửi tiền vào ngân hàng, được hưởng lãi suất ít nhất là cao hơn tỷ lệ lạm phát để hưởng lãi suất dương, không bị “mất tiền” một cách vô hình. Đó cũng là tâm lý rất đời thường và hợp lý của người dân.

De xuat dua lai suat VND ve 0% khong kha thi?
VAFI đề xuất đưa dần lãi suất VND về 0% song các chuyên gia cho rằng đề xuất không khả thi

Ba là, giả sử ta đưa được lãi suất tiền gửi VND là 0% trong khi lạm phát vẫn khoảng 3,5%, liệu người dân có mặn mà gửi tiền vào ngân hàng? Trong khi có nhiều kênh đầu tư khác hấp dẫn hơn. Khi đó, hệ thống ngân hàng thiếu tiền gửi, vừa hứng chịu rủi ro thanh khoản, vừa không có đủ tiền để đáp ứng nhu cầu tín dụng của nền kinh tế. Vậy thì, hệ thống tài chính – tín dụng có thể bị rối loạn và doanh nghiệp thiếu vốn đầu tư kinh doanh, lấy đâu ra nguồn lực để tăng trưởng, để bảo đảm công ăn việc làm…v.v.

Theo tính toán, dòng vốn tín dụng hiện nay chiếm khoảng gần 50% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, huy động qua thị trường chứng khoán khoảng gần 20%, còn lại là vốn FDI, đầu tư công và đầu tư tư nhân…v.v.

Bốn là, lãi suất tiền gửi quá thấp, người dân, doanh nghiệp sẽ mang tiền đi đầu tư vào những kênh khác như bất động sản, chứng khoán, vàng, tiền kỹ thuật số… vừa rủi ro hơn lại vừa thiếu vốn phục vụ sản xuất kinh doanh, tiêu dùng.

Năm là, giả sử dòng tiền đó chảy vào chứng khoán, khi đó doanh nghiệp huy động vốn bằng cách phát hành trái phiếu, do không có tài sản đảm bảo, chủ yếu là tín chấp, doanh nghiệp sẽ phải trả lãi suất khá cao (như hiện nay lãi suất trái phiếu doanh nghiệp khoảng 10-12%/năm, thường cao hơn so với đi vay ngân hàng khoảng 1-3%/năm). Như vậy, liệu đây có phải là bài toán huy động vốn hiệu quả cho doanh nghiệp? Chưa kể là, nếu doanh nghiệp đó chẳng may phá sản, nhà đầu tư trái phiếu gần như mất trắng vì không có tài sản đảm bảo, không có bảo hiểm tiền gửi như khi gửi tiền vào ngân hàng. Chưa kể, hiện nay huy động vốn của doanh nghiệp từ kênh thị trường chứng khoán vẫn chỉ chiếm khoảng 20%.

Cùng chung quan điểm, chuyên gia tài chính-ngân hàng - TS Nguyễn Trí Hiếu chia sẻ trên tạp chí Tài chính và Cuộc sống rằng, muốn cho đề xuất của VAFI khả thi thì điều quan trọng là phải kéo lạm phát xuống rất thấp. Nếu lạm phát kéo xuống khoảng 2% thì phải có lãi suất thực âm 2%, thì thị trường có thể chấp nhận được. Còn hiện tại, với lãi suất thị trường 1 bằng 0%/năm và lạm phát 4% thì phải có lãi suất thực âm 4%, thì chắc chắn thị trường sẽ không chấp nhận được và dòng tiền sẽ rút ra khỏi hệ thống ngân hàng, tạo ra tình trạng mất thanh khoản rất nhanh chóng và rất nguy hiểm.

Theo ông Hiếu, có 2 thị trường, lãi suất huy động từ dân cư và tổ chức kinh tế (thị trường 1) và lãi suất liên ngân hàng (thị trường 2), hai thị trường này tuy có liên thông với nhau nhưng không chặt chẽ. NHNN sẽ chỉ có thể ảnh hưởng lãi suất trên thị trường 2, từ đó mới tác động đến thị trường 1. Nhưng NHNN chưa có công cụ để tác động đến lãi suất bằng 0%/năm trên thị trường 1 được mà phải tác động vào thị trường 2.

Ngay cả khi lãi suất thị trường 1 xuống gần bằng 0%/năm, với hy vọng cho vay ra các doanh nghiệp lãi suất phải vào khoảng 3%/năm, bởi vì các ngân hàng luôn phải duy trì biên độ lợi nhuận cho mình là 3%/năm. Trong trường hợp này, nếu chi phí đầu vào thấp như thế, người dân sẽ rút tiền gửi ra khỏi ngân hàng vì lạm phát Việt Nam hiện tại mục tiêu năm nay là 4%. Do vậy, nếu lãi suất thực âm khi gửi tiền vào ngân hàng, người ta sẽ rút hết tiền ra khỏi ngân hàng và đầu tư vào tài sản khác như bất động sản, chứng khoán, vàng, ngoại tệ và thậm chí là những đồng tiền kỹ thuật số. Do vậy, sẽ tạo ra khủng hoảng hay biến loạn trên thị trường tài chính.

Trong khi đó, báo Dân trí dẫn lời TS Hồ Quốc Tuấn, Giảng viên Đại học Bristol (Anh) nhận định, việc hạ lãi suất tiền gửi mạnh về mức 0% có thể ngay lập tức khiến Việt Nam bị xem là có hành động can thiệp mạnh về chính sách tiền tệ để hạ giá đồng tiền thông qua điều chỉnh giảm lãi suất. Trong bối cảnh chúng ta đang bị quan sát về thao túng tiền tệ, đây sẽ là bước đi sai lầm làm gia tăng căng thẳng về vấn đề này.

Ông Tuấn cũng cho rằng, lãi suất tiền gửi giảm về 0% sẽ khiến tiền chảy ra khỏi hệ thống ngân hàng, chuyển sang các kênh như vàng, ngoại tệ, cổ phiếu, đất đai, "đốt nóng" thị trường tài chính và bất động sản.

Bên cạnh đó, ông cho biết, cá  nền kinh tế lớn giữ lãi suất tiền gửi ở mức rất thấp hay gần bằng 0% xuất phát từ yếu tố lạm phát của họ cũng rất thấp hoặc là số âm như Nhật Bản và Đức.

Việt Nam không ở điều kiện tương tự khi chúng ta chỉ mới thành công trong việc khống chế lạm phát vài năm qua ở dưới mức 3-4%.

Song song đó, nhiều quốc gia có lãi suất tiền gửi 0% sở hữu cấu trúc dân số già. Thứ họ dư thừa là tiền vốn. Chi phí vốn do đó rất thấp và cần cho vay ra ngoài như Nhật Bản.

Việt Nam chúng ta ở trạng thái khác khi đang trong cấu trúc dân số vàng. Các phúc lợi an sinh xã hội cho người dân chưa được cao như nhiều nước nên nhu cầu tiết kiệm của người Việt lớn. Người dân cần có kênh đầu tư an toàn để ký thác tiền tiết kiệm cũng như tạo ra lãi suất hợp lý.

"Sự co hẹp lãi suất tiền gửi tiết kiệm sẽ tạo ra những hệ lụy kinh tế xã hội khó lường và chỉ làm giàu cho một số ít người thông qua việc đốt nóng thị trường tài chính và bất động sản", TS Hồ Quốc Tuấn nhận định.

Minh Thái (Tổng hợp)

Thứ Tư, 23/06/2021 11:28

Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện