Nền kinh tế có đang tồn tại nghịch lý?

(Doanh nghiệp) - Điều đáng lo là khi có một lượng tiền tiết kiệm lớn mà động cơ đầu tư không có thì lượng tiền ấy sẽ “bèo dạt mây trôi” trong nền kinh tế.

Tổng cục Thống kê vừa công báo kết quả sơ bộ khảo sát mức sống dân cư năm 2020 trên phạm vi 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, bao gồm 46.995 hộ đại diện cho toàn quốc, khu vực thành thị, nông thôn, 6 vùng địa lý, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Theo kết quả này, thu nhập bình quân một người/tháng chung cả nước năm 2020 theo giá hiện hành đạt khoảng 4,230 triệu đồng, giảm khoảng 2% so với năm 2019.
Từ con số Tổng cục Thống kê công bố, với dân số cả nước khoảng 98 triệu người, tổng thu nhập dân cư năm 2020 xấp xỉ 5 triệu tỷ đồng.

Tổng thu nhập của hộ gia đình bao gồm thu nhập từ sản xuất và thu nhập ngoài sản xuất. Số liệu cho thấy, thu nhập từ ngoài sản xuất chiếm khoảng 11% và thu nhập từ sản xuất chiếm 89% trong tổng thu nhập.

Thu nhập từ sản xuất được tính vào tổng sản phẩm trong nước (GDP), còn thu nhập ngoài sản xuất (từ sở hữu và từ chuyển nhượng) được tính vào tổng thu nhập quốc gia (GNI) và thu nhập quốc gia khả dụng (NDI). Thu nhập từ sản xuất của người dân hiện chiếm trên 70% GDP.

GDP cơ bản là thu nhập của người lao động, thặng dư sản xuất và thuế sản xuất (bao gồm thuế sản phẩm và thuế sản xuất khác). Trong đó, tăng trưởng của thuế bao giờ cũng phải nhỏ hơn hoặc bằng tăng trưởng của GDP; còn thặng dư (đóng góp của vốn vào GDP) chỉ hơn 20%. Trong năm 2020, thu nhập bình quân đầu người giảm 2% so với năm 2019, trong khi GDP tăng 2,91%, vậy GDP Việt Nam năm 2020 tăng vì đâu? Đây là một câu hỏi lớn.

Nen kinh te co dang ton tai nghich ly?

Cũng theo khảo sát của Tổng cục Thống kê, năm 2020, dù thu nhập bình quân đầu người giảm 2% so với năm 2019 nhưng chi tiêu bình quân hộ gia đình cả nước là 2,89 triệu đồng/người/tháng, tăng 13% so với 2018.

Số liệu thống kê cho thấy, tiêu dùng cuối cùng so với GDP ổn định ở mức khoảng trên dưới 68% trong cả giai đoạn 2010 - 2020. Lấy Tổng thu nhập dân cư (khoảng 5 triệu tỷ đồng) - (trừ) Tiêu dùng cuối cùng (khoảng 4,3 triệu tỷ đồng) = Tiết kiệm (Saving) khoảng 700.000 tỷ đồng. Đây là một con số ấn tượng nếu lượng tiền tiết kiệm này đi vào sản xuất.

Saving là khoản quan trọng để tái đầu tư trong thời kỳ kinh tế sau và người ta chỉ tái đầu tư khi có động cơ, động cơ chính là lợi nhuận, mà lợi nhuận chỉ chiếm hơn 20% trong GDP.

"Sách Trắng về doanh nghiệp Việt Nam năm 2020 cũng cho thấy, tỷ lệ lợi nhuận trước thuế so với tài sản cố định của doanh nghiệp chỉ khoảng 3,5%, thấp hơn lãi suất ngân hàng. Như vậy, về mặt kinh tế, động cơ đầu tư là không có", chuyên gia kinh tế - TS Bùi Trinh cảnh báo.

Bên cạnh việc doanh nghiệp không có động cơ đầu tư, vị chuyên gia cũng lưu ý đến những gánh nặng mà doanh nghiệp đang hứng chịu, đó là gánh nặng về chi phí, quá nhiều thanh tra, kiểm tra.

Ông nhắc đến đề xuất gần đây của Bảo hiểm Xã hội Việt Nam khiến doanh nghiệp lo lắng. Theo đó, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam đề xuất sửa đổi quy định đóng bảo hiểm xã hội theo hướng tiền lương làm căn cứ đóng thấp nhất phải bằng 70% tổng thu nhập của người lao động.

Quy định này nếu được thực hiện, theo TS Bùi Trinh, sẽ là đòn nặng đối với hầu hết các doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh đại dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp, khó lường.

Bảo hiểm xã hội tăng lên đồng nghĩa với lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp giảm đi và thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ giảm theo. Thống kê cho thấy, năm 2020, doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ chiếm 93% tổng số doanh nghiệp có lợi nhuận trước thuế âm từ năm 2011-2019, càng gây bất lợi cho doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay.

"Đóng bảo hiểm xã hội là an sinh lâu dài cho người lao động, còn an sinh trước mắt từ người sử dụng lao động chính là lo việc làm và thu nhập cho người lao động, đóng thuế cho ngân sách và góp phần vào phát triển kinh tế của quốc gia. Như vậy, doanh nghiệp trước tiên phải tồn tại và làm ăn có lãi", vị chuyên gia nhấn mạnh, đồng thời cho rằng, gói hỗ trợ tốt nhất đối với doanh nghiệp chính là bớt thanh tra, kiểm tra, giảm chi phí, tạo điều kiện cho doanh nghiệp trụ vững để vượt qua thời kỳ khó khăn do dịch bệnh.

Một điểm khác khi đề cập đến nguồn tiền tiết kiệm trong khu vực dân cư được TS Bùi Trinh lưu ý, đó là Saving chiếm khoảng 10-11% trong GDP nhưng nợ của hộ gia đình cao ngất ngưởng.

Theo báo cáo "Bảng cân đối kế toán của các ngân hàng nói lên điều gì?" của Ngân hàng HSBC dựa trên phân tích báo cáo tài chính của 4 ngân hàng quốc doanh nhóm "Big 4" (Vietcombank, BIDV, Vietinbank và Agribank), tỷ lệ dư nợ của nhóm khách hàng hộ gia đình đã tăng từ 28% năm 2013 lên tới 46% trong năm 2020, trong khi trước đó, tỷ lệ dư nợ lớn nhất luôn thuộc về nhóm công ty cổ phần và trách nhiệm hữu hạn. Tỷ lệ dư nợ hộ gia đình so với GDP lên đến khoảng 61%.

Theo TS Bùi Trinh, ngân hàng là nơi cung cấp vốn chính cho nền kinh tế, dư nợ của hộ gia đình tăng cao như vậy là không bình thường. Điều này phần nào cho thấy hệ thống doanh nghiệp thu hẹp sản xuất, ngân hàng không khơi thông được dòng tiền cho vay vào khối sản xuất nên ngân hàng đã khai thác kênh cho vay tiêu dùng.

Từ những phân tích trên, vị chuyên gia khẳng định, nền kinh tế đang tồn tại nghịch lý. Điều đáng lo là khi có một lượng tiền tiết kiệm lớn mà động cơ đầu tư không có thì lượng tiền ấy sẽ quanh quẩn, “bèo dạt mây trôi” trong nền kinh tế, nguy cơ lạm phát là rất cao.

Nhân đây, vị chuyên gia lưu ý thêm, người dân và doanh nghiệp nội rất hăng hái đóng góp cho quỹ phòng chống dịch bệnh Covid – 19, nên khi phân bổ tiêm vaccine cần có thái độ bình đẳng giữa doanh nghiệp và người dân trong nước và doanh nghiệp FDI. Lưu ý rằng thuế VAT mà các doanh nghiệp FDI nộp vào ngân sách về bản chất là nộp hộ cho người tiêu dùng Việt Nam.

Thành Luân

Thứ Hai, 07/06/2021 07:27

Sự Kiện