Doanh nghiệp Nhà nước kêu là được cứu: Giẫm vết xe đổ?

(Doanh nghiệp) - "Nếu các tổng công ty, DNNN cứ kêu là được cứu sẽ rất khó thoát nguy cơ đi vào vết xe đổ của Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên".

Đó là quan điểm của GS Hà Tôn Vinh, nguyên Giám đốc Chương trình Cao học Quản trị Kinh doanh của Đại học Tổng hợp Hawaii tại TP.HCM; Chủ tịch và Tổng giám đốc Tổ hợp Giáo dục, Đào tạo & Tư vấn Quốc tế Stellar Management xoay quanh đề xuất chỉ định thầu Tổng công ty Sông Đà làm một số đoạn cao tốc Bắc - Nam của Bộ Xây dựng.

Doanh nghiep Nha nuoc keu la duoc cuu: Giam vet xe do?
GS Hà Tôn Vinh, nguyên Giám đốc Chương trình Cao học Quản trị Kinh doanh của Đại học Tổng hợp Hawaii tại TP.HCM; Chủ tịch và Tổng giám đốc Tổ hợp Giáo dục, Đào tạo & Tư vấn Quốc tế Stellar Management. Ảnh: Nhịp cầu đầu tư

Không thể cứ kêu là cứu

PV:- Sau khi có chủ trương chuyển đổi một số dự án thành phần trên tuyến cao tốc Bắc - Nam từ đầu tư PPP sang đầu tư công, Bộ Xây dựng đề xuất Thủ tướng cho chỉ định thầu Tổng công ty Sông Đà làm một số dự án trên tuyến cao tốc này. Lý do Bộ Xây dựng đưa ra là để tạo việc làm cho cán bộ, kỹ sư, công nhân đang làm việc tại Tổng công ty này. Ông bình luận thế nào về đề xuất trên?

GS Hà Tôn Vinh: Xoay quanh đề xuất của Bộ Xây dựng, tôi thấy có bốn vấn đề cần nói rõ.

Thứ nhất, không ai phủ nhận tính cấp thiết của dự án cao tốc Bắc - Nam. Vì thế, chủ trương thực hiện dự án đã được đặt ra từ lâu, tuy nhiên nguồn lực để thực hiện dự án chính là một vấn đề lớn khiến dự án chưa thể triển khai ngay.

Thứ hai, dự án cao tốc Bắc – Nam được hình thành trong bối cảnh phải chịu sự cạnh tranh rất lớn từ các loại hình giao thông vận tải khác như đường sắt, đường hàng không. Trong khi nguồn lực tài chính còn eo hẹp nhưng lại có quá nhiều dự án hạ tầng trọng điểm muốn được ưu tiên cùng lúc, như các dự án đường sắt cao tốc Bắc - Nam, dự án phát triển sân bay Long Thành…, việc chia nhỏ nguồn lực phân bổ đồng đều cho các dự án để thực hiện cùng một lúc là rất khó.

Vì lý do này mà việc triển khai dự án cao tốc đường bộ Bắc – Nam nhiều năm nay vẫn không thực hiện được và ngay cả dự án đường sắt cao tốc Bắc – Nam cũng chưa thể hình thành được. Có lẽ, thời gian tới, cần có cơ chế đánh giá lại tính ưu tiên của từng dự án để quyết định nên thực hiện dự án nào trước, dự án nào có thể triển khai sau. Rất khó cầu toàn, cái gì cũng muốn có trong khi nguồn lực lại hạn chế được.

Thứ ba, các tổng công ty, doanh nghiệp lớn của nhà nước như Sông Đà, Vinaconex, Lilama… đều là những đơn vị có truyền thống, kinh nghiệm trong lĩnh vực xây dựng và đã từng kinh qua nhiều dự án trọng điểm quốc gia, những công trình thủy điện lớn, tập trung số lượng lớn lao động có kinh nghiệm chuyên môn, đầu tư nhiều thiết bị...

Tuy nhiên, khi những dự án trọng điểm quốc gia ít đi thì việc duy trì công việc, trả lương cho đội ngũ lao động lại trở thành gánh nặng cho các đơn vị này, còn các tổng công ty, tập đoàn này lại trở thành gánh nặng cho nguồn tài chính của ngân sách nhà nước.

Thứ tư, khi các tổng công ty, tập đoàn nhà nước bị “thất nghiệp”, Bộ Xây dựng đưa ra đề xuất cho phép chỉ định thầu Tổng công ty Sông Đà thi công một số đoạn đường bộ trên tuyến cao tốc Bắc - Nam phía đông. Đề xuất được xem là nhằm “giải cứu” tập đoàn này, nhưng cũng đồng thời là để giúp giảm bớt gánh nặng tài chính cho Chính phủ.

Nhưng để xem xét tính hợp lý cũng như không hợp lý của đề xuất này thì cần nhìn nhận từ ba góc độ.

Một là, Không thể tiếp tục chính sách “bao bọc” các doanh nghiệp, tổng công ty, tập đoàn nhà nước theo kiểu cứ thấy yếu kém là hỗ trợ vay vốn lãi suất thấp, thấy thua lỗ là đổ thêm vốn. Nhà máy Dệt Nam Định, Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên… là những ví dụ điển hình cho cách thức giải cứu không phù hợp, làm cho gánh nặng tài chính của Chính phủ ngày càng nặng thêm, gánh nợ của ngân sách ngày càng lớn hơn.

Hai là, từ chỗ luôn được bao bọc, giải cứu, nên các tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước đã hình thành thói quen ỉ lại, dựa dẫm, không chịu lớn. Như vậy là rất không nên.

Tuy nhiên, nếu nhìn từ góc độ xã hội, đời sống, Chính phủ cũng không thể bỏ mặc các doanh nghiệp, tổng công ty, tập đoàn khó khăn mà không cứu, vì liên quan tới các đơn vị này là hàng nghìn công nhân, lao động có nguy cơ bị thất nghiệp. Từ đó, đặt ra vấn đề thứ ba, các chính sách hỗ trợ nên thực hiện thế nào?  

Về chiến lược lâu dài, các chính sách hỗ trợ của Chính phủ với các tập đoàn phải khác đi. Có thể vẫn giữ chính sách hỗ trợ ở một vài thời điểm nào đó, nhưng dần dần phải có phương án đưa các tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước vào guồng máy quản lý của các nhà đầu tư tư nhân. Ở các nước, người ta gọi đó là “tập đoàn công, tài sản công, nhưng quản lý tư”.

Có thể học bài học từ việc quản lý bưu điện tại Mỹ. Đây là công ty công ích duy nhất tại Mỹ được Chính phủ nước này duy trì và chấp nhận bù lỗ. Khi còn thuộc Chính phủ quản lý, hàng năm Quốc hội Mỹ phải chi ra vài tỉ USD để hỗ trợ duy trì các hoạt động của bưu điện. Tuy nhiên, sau khi được bàn giao cho công ty tư quản lý với cam kết, lỗ Chính phủ sẽ hỗ trợ, lợi nhuận công ty tư nhân được giữ, thì ngành bưu điện của Mỹ không còn bị lỗ nữa.

Chính sách này tưởng là trái khoáy, nhưng lại là chiến lược giúp ngân sách Mỹ giữ lại được số tiền 1-2 tỉ USD/năm để bù lỗ cho bưu điện.

Bởi lẽ, khi giao vào tay công ty tư nhân cùng với chính sách khuyến khích có lợi đã kích thích công ty tư nhân làm tốt hơn, nhanh hơn, hiệu quả hơn và không bị thua lỗ nữa. Xét một cách toàn diện, Chính phủ Mỹ có thể không được thu về khoản lợi nhuận 1-2 tỉ USD/năm, nhưng ngược lại ngân sách cũng không bị mất đi số tiền này. Tài sản công, quản lý tư chính là như vậy.

Trở lại việc có nên đồng ý với đề xuất của Bộ Xây dựng là cho Tổng công ty Sông Đà thi công một số đoạn trên dự án cao tốc Bắc – Nam để “giải cứu” doanh nghiệp này hay không, quan điểm của tôi là có thể hỗ trợ, nhưng phải thực hiện theo cơ chế đấu thầu, trong đó, Chính phủ sẽ đưa ra đầu bài rất cụ thể (tài liệu đấu thầu), công khai.

Với việc đưa ra cơ chế đấu thầu, Tổng công ty Sông Đà sẽ tham gia đấu thầu cùng nhiều tổng công ty, doanh nghiệp khác có mong muốn cùng tham gia, nhưng có thể xem xét một số cơ chế ưu tiên hỗ trợ cho Tổng công ty Sông Đà. Nếu Tổng công ty Sông Đà trúng thầu thì không còn gì phải nói. Ngược lại, nếu Tổng công ty Sông Đà không trúng thầu mà dự án lại rơi vào tay một tổng công ty, doanh nghiệp khác thì cũng không có gì phải lo lắng.

Như thế, chúng ta sẽ nhìn thấy một xu hướng dịch chuyển lao động từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác, tức là khi đơn vị trúng thầu cần có thêm nguồn nhân lực để thực hiện dự án chắc chắn sẽ có nhiều lao động có chuyên môn từ Tổng công ty Sông Đà chuyển sang. Hoặc các tổng công ty, doanh nghiệp sẽ thỏa thuận sử dụng lao động của nhau để tránh lãng phí nguồn lực. Theo cách này, khó khăn về việc làm cho lao động cũng sẽ được giải quyết.

Tuyệt đối không hỗ trợ theo kiểu để “tổng công ty tự nuôi tổng công ty”, nếu không rất khó tránh đi vào vết xe đổ của Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên hay Nhà máy Dệt Nam Định như đã chứng kiến.

Có hiện tượng lấn sân, cạnh tranh không bình đẳng

PV:- Đáng nói, trước đó cũng có kiến nghị giao thầu thi công các dự án thành phần đường cao tốc Bắc - Nam cho các doanh nghiệp nhà nước khác thực hiện. Điều đó cho thấy, có hiện tượng bộ ngành nào cũng ưu ái doanh nghiệp thuộc bộ ngành mình. Hiện tượng trên biểu hiện của điều gì? Và để xảy ra tình trạng trên thì sẽ thế nào, nhất là khi chúng ta đang nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh, tạo cơ hội cho doanh nghiệp tư nhân, thưa ông?

GS Hà Tôn Vinh: Không quá ngạc nhiên khi bộ ngành nào cũng muốn vun vén, ưu ái cho doanh nghiệp thuộc bộ ngành mình quản lý. Việc này là bình thường và là tâm lý chung của hầu hết các bộ ngành. Vì bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp trực thuộc cũng chính là bảo vệ quyền lợi của các bộ, ngành.

Điều bất thường nằm ở chỗ, nếu cứ tiếp tục để các bộ ngành đóng hai vai “vừa quản lý, vừa kinh doanh” dần dần sẽ tạo ra sự cạnh tranh thiếu bình đẳng trong các khu vực kinh tế. Các bộ ngành là cơ quan quản lý nhà nước, chỉ nên thực hiện đúng vai trò chức năng của mình là hỗ trợ, giám sát và định hướng cho các thành phần kinh tế phát triển, bộ ngành không thể vừa quản lý, tham mưu ban hành chính sách, rồi lại trực tiếp đi kinh doanh, cạnh tranh với các doanh nghiệp khác được.

Còn đứng trên vai trò của Chính phủ, các cơ chế chính sách phải hướng tới lợi ích chung, bảo vệ lợi ích chung của nhân dân, của đất nước, của cả nền kinh tế, không thể quá ưu ái cho bất kỳ một bộ ngành hay một tập đoàn, tổng công ty nào.

Cụ thể, trong việc thực hiện dự án cao tốc Bắc – Nam, Chính phủ cần hướng tới ba vấn đề rất cụ thể. Đầu tiên, cần đánh giá nhu cầu phát triển của đất nước nằm ở đâu để xác định yếu tố được ưu tiên. Tiếp đến là xác định nguồn lực để thực hiện các dự án đó lấy từ đâu ra. Cuối cùng là, công tác giám sát các dự án được thực hiện thế nào để bảo đảm dự án hiệu quả nhất, chất lượng tốt nhất, tiết kiệm nhất.

PV:- Ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 lên các doanh nghiệp tư nhân cũng rất nặng nề. Việc đẩy mạnh đầu tư công được kỳ vọng sẽ tạo nên một tác động lan tỏa tới toàn nền kinh tế, là cơ hội cho khu vực kinh tế ngoài nhà nước. Nếu miếng bánh nguồn lực và lợi ích chỉ chia cho các doanh nghiệp nhà nước, thì doanh nghiệp tư sẽ gặp khó khăn, thiệt thòi như thế nào?

Vai trò động lực của kinh tế tư nhân trong phát triển kinh tế Việt Nam luôn được nhấn mạnh, nhưng nếu những đề xuất đi ngược chủ trương này được chấp thuận, ảnh hưởng tới nhóm doanh nghiệp này nói riêng và sự phát triển của nền kinh tế nói chung sẽ ra sao?

GS Hà Tôn Vinh: Sau ảnh hưởng do thiên tai, dịch bệnh hay khủng hoảng kinh tế toàn cầu thì đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công sẽ là giải pháp hữu hiệu để thúc đẩy sự phát triển toàn diện của các lĩnh vực kinh tế, trong đó có sự tham gia của cả khu vực tư nhân và khu vực nhà nước. Tuy nhiên, nếu miếng bánh nguồn lực và lợi ích chỉ chia cho các doanh nghiệp nhà nước, chắc chắn doanh nghiệp tư nhân sẽ gặp khó khăn, thiệt thòi hơn.

Vì thế, về phía Nhà nước, cần tạo ra một sân chơi bình đẳng. Trong một vài trường hợp cụ thể có thể xây dựng cơ chế ràng buộc, buộc nhà thầu chính là các doanh nghiệp, tổng công ty, tập đoàn nhà nước phải liên kết, sử dụng lao động, nhân công của nhà đầu tư tư nhân. Nếu làm được như vậy, chính sách đầu tư công mới mang lại hiệu quả. Khi cả doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân cùng sống khỏe thì năng lực cạnh tranh được cải thiện, nội lực nền kinh tế sẽ được nâng lên.

Doanh nghiep Nha nuoc keu la duoc cuu: Giam vet xe do?
Bộ Xây dựng đề xuất chỉ định thầu Tổng công ty Sông Đà làm một số dự án thành phần trên tuyến cao tốc Bắc - Nam

Giám sát chặt chẽ, tránh thất thoát, lãng phí

PV:- Xét về hình thức chỉ định thầu, ưu điểm của hình thức này là thúc đẩy nhanh tiến độ. Thế nhưng, nhược điểm sẽ là mức giá đầu tư không phải cạnh tranh nhất, làm thiệt hại nguồn lực của nền kinh tế, thậm chí làm nảy sinh tiêu cực, xin – cho. Nếu chấp nhận hình thức này thì bài toán thiệt hơn phải được tính toán như thế nào, thưa ông?

GS Hà Tôn Vinh: Tôi đồng ý trong một vài trường hợp hoặc từng trường hợp cụ thể có tính chất đặc thù như dự án mang tính khẩn cấp, có tầm quan trọng tới an ninh quốc phòng… có thể xem xét chỉ định thầu để bảo đảm tiến độ thực hiện, cũng như bảo đảm an toàn cho dự án. Trong trường hợp này, chỉ định thầu sẽ giúp việc giải ngân đầu tư công thuận lợi, nhanh chóng hơn, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phục hồi sớm hơn.

Tuy nhiên, vấn đề lớn nhất của dự án cao tốc Bắc – Nam hiện nay không phải là những vấn đề liên quan tới tiến độ, an ninh quốc phòng, mà vướng mắc chính là kinh phí thực hiện. Như vậy, chỉ định thầu không phải là giải pháp bắt buộc phải được ưu tiên với dự án này.

Mặt khác, cơ chế chỉ định thầu lâu nay cũng đã bộc lộ nhiều hạn chế, sai phạm, như có tình trạng ưu ái dự án lớn cho một vài nhà thầu, tạm ứng tiền lớn gấp nhiều lần giá trị thực tế đã thi công… gây thất thoát, lãng phí lớn. Vì thế, ngoài những trường hợp thật sự cấp bách hoặc có tính đặc thù, thì chỉ định thầu không nên tạo thành thông lệ và không nên thực hiện rộng rãi, thường xuyên ở các dự án đầu tư công.
 
PV:- Trở lại với đề xuất “giải cứu” Tổng công ty Sông Đà của Bộ Xây dựng, theo ông nên xem xét như thế nào? Và nếu cần phải giúp Tổng công ty Sông Đà thì giải pháp tối ưu là gì, thưa ông?

GS Hà Tôn Vinh: Như đã nói ở trên, hỗ trợ các tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước là cần thiết, nhưng không thể hỗ trợ theo kiểu bao bọc “con cưng”, cứ kêu là cứu.

Với Tổng công ty Sông Đà, báo cáo cho thấy đơn vị này đang nợ Ngân hàng ADB khoảng 114,8 triệu USD nhưng không có khả năng trả nợ gốc và lãi vay đến hạn nên phải đặt ra vấn đề “giải cứu” doanh nghiệp này. Trên thực tế, tình trạng nợ nần, thua lỗ của các tổng công, tập đoàn kinh tế cũng hoàn toàn có thể xảy ra do tác động của các yếu tố khách quan như kinh tế suy thoái hoặc do tác động của thiên tai, địch họa…

Những trường hợp này, Chính phủ có thể cân nhắc xem xét tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham gia vào một vài dự án thành phần nhưng vẫn theo cơ chế đấu thầu công khai như tôi đã phân tích ở trên.

Hoặc có thể tạo điều kiện ưu tiên cho Tổng công ty Sông Đà được thực hiện ở một vài dự án nào đó có tính rõ ràng, cụ thể hơn. Đó cũng chính là cách để hỗ trợ. Tuyệt đối không vì Tổng công ty Sông Đà kêu khó mà cứu.

Phải lưu ý, dù là Tổng công ty Sông Đà hay bất kỳ nhà thầu nào thực hiện dự án này Chính phủ phải luôn hình thành và duy trì cơ chế giám sát chặt chẽ trong suốt quá trình thực hiện dự án nhằm bảo đảm về chất lượng dự án cũng như tránh tình trạng dự án bị kéo dài, đội vốn, gây thất thoát, bức xúc như dự án Cát Linh – Hà Đông, hay các tuyến metro tại TP.HCM.

PV: Xin cảm ơn ông!

Vũ Lan (thực hiện)

Thứ Ba, 16/06/2020 07:22

Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện