Bài học bước hụt trong quản lý Grab, Uber đang lặp lại?

(Doanh nghiệp) - Bài học thực tế đã có, công tác quản lý phải lường trước không phải đợi đến khi xảy ra rồi mới chạy theo

Kinh tế số, làn sóng không thể đảo ngược

TS Bùi Ngọc Sơn, Trưởng phòng Kinh tế thế giới, Viện Nghiên cứu chính trị cho biết, kỹ thuật số, thương mại điện tử từ lâu đã rất phát triển, tuy nhiên do quy mô nhỏ và bản thân các hoạt động thương mại điện tử, kỹ thuật số, kinh tế số cũng trở thành những nhân tố cứu cánh cho nền kinh tế nhiều nước thời kỳ khủng hoảng, vì thế các cơ chế quản lý loại hình kinh tế này chưa được quan tâm đúng mức.

Bai hoc buoc hut trong quan ly Grab, Uber dang lap lai?
Cần quản lý chặt chẽ các nền tảng truyền hình số. Ảnh minh họa

Tuy nhiên, những năm gần đây, thế giới đang chứng kiến những chuyển biến nhanh như vũ bão của cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0, trong đó có làn sóng số hóa của lĩnh vực sản xuất. Kinh tế số đã trở thành xu hướng tất yếu, thậm chí kinh tế số, nền tảng số đã trở thành yếu tố tác động trực tiếp, làm thay đổi cả cấu trúc của nền kinh tế nhiều nước.

Ông Sơn lấy ví dụ, trước đây muốn kinh doanh phải có cửa hàng, mặt bằng mới kinh doanh, làm thương mại được, còn bây giờ không cần cửa hàng, mặt bằng thì các hoạt động thương mại điện tử vẫn diễn ra mạnh mẽ.

Riêng ở lĩnh vực văn hóa kinh tế sáng tạo nhiều nền tảng truyền hình trả tiền nước ngoài cũng đang làm mưa, làm gió trên thị trường nhiều nước. Tại Việt Nam, Google, Facebook, Netflix… có hoạt động phát sóng và thu tiền với doanh thu lên tới cả nghìn tỷ đồng/năm nhưng cơ quan chức năng mới kiểm tra và yêu cầu truy thu với số tiền thuế lên tới...hàng chục tỷ đồng.

Đáng nói, vấn đề quản lý, thu thuế đối với các loại hình kinh tế số, nền tảng truyền hình số còn đang gặp nhiều khó khăn.

"Ngay từ đầu vấn đề quản lý các nền tảng kỹ thuật số, truyền hình số còn chưa được quan tâm. Chỉ đến khi các loại hình này phát triển quá mạnh mẽ lúc đó người ta mới nghĩ tới việc phải có cơ chế quản lý nó, kiểm soát nó. Đến lúc đó, các vấn đề phát triển công nghệ để kiểm soát, thu thuế mới được đặt ra. Bên cạnh đó, các khuôn khổ pháp lý dần được hình thành, các quy định pháp luật mới được thông qua", ông Sơn nói.

Quản lý còn... chậm?

Tuy nhiên, theo quan sát của ông Bùi Ngọc Sơn, vấn đề thay đổi quản lý ở Việt Nam còn rất chậm, trong khi các nước gần như đã nắm được thế chủ động thì chúng ta vẫn đang loay hoay chưa ra được một đạo luật cụ thể.

"Các kênh dịch vụ truyền hình trả tiền đang hoạt động dưới chế tài của Nghị định 06/2016/NĐ-CP quy định về việc quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ phát thanh, truyền hình. Trong đó, yêu cầu việc cung cấp dịch vụ phải có giấy phép, đối tượng cung cấp dịch vụ là doanh nghiệp Việt Nam.

Tuy nhiên, Nghị định 06 chưa quy định đối với doanh nghiệp OTT (dịch vụ truyền hình có trả tiền dựa trên các nền tảng internet) xuyên biên giới.

Vì thế, mới đây vẫn còn những kiến nghị sửa đổi Nghị định 06/2016/NĐ-CP về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ phát thanh, truyền hình trên nền tảng tôn trọng thực thi luật pháp Việt Nam, tôn trọng, bình đẳng, tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước cạnh tranh, phát triển. Như vậy là chậm, là chạy theo giải quyết khi sự đã rồi. Dù vậy, vẫn cần phải nhanh chóng xây dựng một hành lang pháp lý chặt chẽ, phù hợp để quản lý kịp thời loại hình kinh tế này", ông Sơn nói.

Theo ông Sơn, yêu cầu sớm đưa ra các cơ chế quản lý, kiểm soát loại hình kinh tế số, nền tảng văn hóa số không chỉ nhằm kiểm soát nội dung tốt hơn, mà còn tránh gây ra những tranh cãi, thất thu cho ngân sách.

Lấy ví dụ từ việc quản lý Grab, Uber... các loại hình taxi công nghệ cũng do quá chậm trễ trong việc đưa ra một cơ chế quản lý phù hợp, dẫn tới những chèn ép, gây khó khăn kéo dài đã giết chết loại hình taxi truyền thống.

Hay việc quản lý các hoạt động thương mại điện tử cũng vậy. Chỉ cần thông qua một phần mềm bán hàng điện tử xuyên biên giới là hàng hóa được bán khắp nơi trên cả nước Việt Nam, người mua trả tiền, hàng hóa được chuyển tới tận tay người tiêu dùng, nhưng gần như không chịu kiểm soát về chất lượng, nguồn gốc hàng hóa. Trong khi các doanh nghiệp trong nước để sản xuất ra một sản phẩm phải có giấy phép, phải đóng thuế rất nhiều thủ tục nhiêu khê, phức tạp mà hàng hóa vẫn không thể bán được. Như vậy rõ ràng đang có vấn đề rất lớn trong công tác quản lý, không chỉ vì khó kiểm soát được các hoạt động kinh doanh, kiểm soát chất lượng, nguồn gốc hàng hóa mà còn khiến doanh nghiệp trong nước bị chèn ép, không thể cạnh tranh, phát triển được.

"Những vấn đề này lẽ ra công tác quản lý phải lường trước và phải có nghiên cứu, xây dựng được các nền tảng để kiểm soát, quản lý kịp thời. Để đến bây giờ mới chạy theo là quá chậm, gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong nước, gây tổn hại cho các hoạt động kinh doanh số nói chung", ông Sơn thẳng thắn.

Cần dựng hàng rào pháp luật, kiểm soát chặt chẽ

Nhìn từ bài học thực tế nói trên, ông Sơn cho rằng, trong xu hướng toàn cầu hóa, kinh tế số ngày càng phát triển mạnh, nếu không nhanh chóng đưa ra cơ chế quản lý, kiểm soát chặt chẽ loại hình kinh tế mới này thì không những thiệt về mặt kinh tế mà còn mang tới những mối đe dọa về mặt chính trị, ngoại giao.

Lấy ví dụ với nhiều nội dung không đúng sự thật, sai chủ quyền, những bộ phim có nội dung không phù hợp, kích động, khiêu dâm vẫn được chiếu trên nền tảng truyền hình trả tiền của Netflix gây bức xúc thời gian qua nhưng chúng ta cũng chưa có được cơ chế xử lý triệt để. Trên thực tế, nhiều quốc gia cũng lo ngại về vấn đề an ninh khi họ không thể kiểm soát được dịch vụ OTT từ những nhà cung cấp của nước ngoài đang cung cấp dịch vụ thoại và SMS miễn phí trên chính quốc gia của họ. Ngay sau đó, nhiều quốc gia đã đưa ra được cơ chế quản lý phù hợp, buộc các đơn vị cung cấp dịch vụ truyền hình số phải tuân thủ khi thực hiện phát sóng, thu tiền trên lãnh thổ quốc gia họ.

Ông Sơn nói rõ, có hai việc rất rõ ràng các quốc gia khác đã thực hiện được thì không có lý do gì Việt Nam lại không thực hiện được.

Lý do thứ nhất là thu thuế. Ông Sơn khẳng định, bất kỳ một loại hình dịch vụ kinh doanh nào có hoạt động kinh doanh, thu tiền trên lãnh thổ Việt Nam đều phải thực hiện nghĩa vụ và phải đóng thuế cho Việt Nam.

Thứ hai, các nền tảng truyền hình trả tiền nước ngoài có hoạt động kinh doanh, thu tiền tại Việt Nam cũng phải chịu sự quản lý, kiểm soát của pháp luật Việt Nam.

Ông Sơn cho rằng, việc này không hề khó. Thế giới nhiều nước đã làm được. Ví dụ việc chính phủ Úc đã thành công trong việc tạo lập sân chơi công bằng, bình đẳng giữa các ông lớn công nghệ và ngành công nghiệp báo chí truyền thống. Hay như chính phủ Tây Ban Nha cũng đang chuẩn bị một dự luật theo đó áp dụng mức thuế 5% lên các nền tảng giải trí trực tuyến như Netflix và sử dụng số tiền này để phát triển điện ảnh trong nước.

Chính phủ Canada cũng công bố dự thảo chính sách quản lý nội dung các dịch vụ truyền phát trực tiếp.

Tại Philippines, hồi tháng 5, nghị sĩ Joey Salceda đề xuất dự luật đánh thuế vào Netflix và nhiều công ty công nghệ nước ngoài. Theo đó, biện pháp này có thể mang về cho Philippines gần 573 triệu USD hằng năm, giúp nước này hồi phục sau tác động của đại dịch COVID-19.

Trong khi đó, Indonesia đã đánh thuế giá trị gia tăng (VAT) 10% lên Netflix cùng các công ty công nghệ như Amazon, Google hay Spotify hồi tháng 7.

"Về lâu dài, cần phải có đội ngũ nghiên cứu chi tiết về công nghệ số, kỹ thuật số để xây dựng các biện pháp quản lý phù hợp lâu dài. Đây là trách nhiệm của Bộ Công thương và các cơ quan thuế phải phối hợp với các đơn vị phụ trách lĩnh vực kỹ thuật số phải làm", ông Sơn nói.

Thái Bình

Thứ Sáu, 26/03/2021 10:46

Sự Kiện