Trồng rừng cần chú ý chất chứ không phải số lượng

(Liên hiệp hội) - Bài học sau đợt lũ lụt và sạt lở đất miền Trung cần được phản ánh vào chiến lược phát triển lâm nghiệp 10 năm tới.

Sáng 19/11, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã tổ chức Hội thảo Góp ý cho Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Trong rung can chu y chat chu khong phai so luong
TSKH. Nghiêm Vũ Khải phát biểu tại Hội thảo.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, TS. Nghiêm Vũ Khải, ĐBQH khóa XIV, Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam cho rằng, lâm nghiệp là ngành rất quan trọng tại Việt Nam.  

Đánh giá cao nỗ lực xây dựng chiến lược được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn soạn thảo song ông vẫn cho rằng, chiến lược vẫn chưa thể hiện rõ quan điểm của Bộ quản lý trong tương lai của ngành này.

Một trong những vấn đề đặc biệt gây chú ý của lâm nghiệp là độ che phủ rừng. Tỷ lệ che phủ rừng của Việt Nam trải qua nhiều giai đoạn. Trong đó, giai đoạn khó khăn nhất độ che phủ rừng của Việt Nam chỉ đạt trên 30%, năm 2019 đạt 41,89%, ước năm 2020 sẽ đạt 42%. Độ che phủ rừng là một trong những chỉ tiêu quan trọng trong Chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội quốc gia. Tuy nhiên, độ che phủ rừng là một chuyện, chất lượng rừng lại là một chuyện khác.

“Những năm khó khăn trước đây, rừng có rất nhiều tầng gồm: cây tầng trung, tầng cao và tầng thấp. Tôi chứng kiến những trận mưa rừng rất lớn, sau vài tiếng đồng hồ thì mới bắt đầu ngấm ra các con suối nhỏ, sau đó mới ngấm ra sông. Độ che phủ rừng đạt 42% là con số đáng khích lệ. Tuy nhiên, chất lượng rừng lại là vấn đề” - ông Nghiêm Vũ Khải nói.

Dự thảo Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050 do Tổng cục Lâm nghiệp xây dựng đặt mục tiêu tốc độ tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp từ 5 - 5,5%/năm giai đoạn 2021- 2021 và duy trì ổn định đến năm 2030. Giá trị xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản ngoài gỗ đạt 18-20 tỷ USD vào năm 2025; đạt 23 - 25 tỷ USD vào năm 2030. Tiêu thụ lâm sản thị trường trong nước đạt 5 tỷ USD vào năm 2025, trên 6 tỷ USD vào năm 2030.

Cùng với các mục tiêu về kinh tế, mục tiêu môi trường và xã hội cũng được đề ra cụ thể.

Trong rung can chu y chat chu khong phai so luong
Phó Tổng Thư ký Liên hiệp Hội Việt Nam và đại diện Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chủ trì Hội thảo.

Theo đó, tỷ lệ che phủ rừng duy trì 42% vào năm 2025 và ổn định ở mức 43% vào năm 2030; đến năm 2025 và năm 2030, số vụ vi phạm quy định pháp luật về bảo vệ rừng không tăng so với năm 2020; đến năm 2025 diện tích cây xanh đô thị bình quân 5m2/người và đến năm 2030 là 10m2/người; tỷ lệ lao động làm việc trong lâm nghiệp được đào tạo đạt 40% vào năm 2025 và 45% vào năm 2030; đến năm 2025 có 50% và đến năm 2030 có 80% số hộ miền núi, người dân tộc thiểu số sống ở vùng có rừng tham gia sản xuất kinh doanh lâm nghiệp hàng hóa hoặc các dịch vụ…

Tỷ lệ che phủ rừng hiện vẫn đang tăng lên, tương đối ổn định. Bộ Nông nghiệp đề xuất tỷ lệ che phủ rừng duy trì 42% vào năm 2025, ổn định ở mức 43% vào năm 2030.

Trước dự thảo chiến lược này, ông Lê Công Lương - Phó Tổng Thư ký Liên hiệp Hội Việt Nam nhận định, sự tăng trưởng trong ngành lâm nghiệp được ví là "sự tăng trưởng vượt bậc" và "rất tự hào về kết quả này".

Độ che phủ rừng tăng lên nhưng chất lượng rừng thực sự là chưa cao, có thể gọi là cách "làm ăn xổi".

Ông cho rằng, chính quan điểm về độ che phủ rừng như vậy mới dẫn tới mất rừng, gây nên những hậu quả nghiêm trọng của biến đổi khí hậu. Lũ lụt miền Trung, sạt lở đất.. đều là những hệ quả từ việc khai thác rừng, trồng rừng không hiệu quả.

Ông Lê Công Lương nhận định, cần nhìn vào 3 phát ngôn gần đây: Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp từ chối 3 dự án đổi đất rừng làm dự án; Phó Chủ tịch tỉnh Quảng Nam phát biểu không lấy rừng làm thủy điện; Thủ tướng Chính phủ khẳng định không đánh đổi môi trường để lấy tăng trưởng kinh tế để làm phương hướng cho bản Chiến lược. Bản Chiến lược này cần nhìn thẳng, nhìn thật vào hậu quả nghiêm trọng ở miền Trung vừa qua để xây dựng các giải pháp cho phù hợp.

Trong khi đó, chuyên gia lâm nghiệp TS. Đoàn Diễm cho biết, bản chiến lược được xây dựng chỉ tập trung chính vào tăng trưởng kinh tế mà không chú ý tới vấn đề bảo vệ môi trường bởi đây là 2 vấn đề song song. Quan điểm này cần phải được xác định rõ ràng trong chiến lược.

"Phát triển lâm nghiệp bền vững cần phải dựa trên cơ sở phối  hợp đa ngành, vì riêng ngành lâm nghiệp không thể giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường  đặc biệt là vấn đề sinh kế và việc làm cho người dân miền núi và dân tộc thiểu số, nguyên nhân chính gây mất rừng suy thoái rừng" - TS. Đoàn Diễm nhận xét.

Trong chiến lược của Bộ Nông nghiệp, giá trị xuất khẩu đồ gỗ đến năm 2025 là 18-20 tỷ USD/ năm và đến 2030 là 23-25 tỷ USD/ năm. Ông cho rằng, mục tiêu này là quá cao. Nhu cầu đồ gỗ trên thế giới trong 5 năm tới sẽ bị giảm sút do đại dịch COVID-19 và chỉ có thể phục hồi sau 2025 với mức như trước đại dịch hoặc  có thể tăng đôi chút, chứ không thể tăng gấp đôi mức hiện nay; thêm vào đó cạnh tranh quốc tế sẽ gay gắt làm cho đồ gỗ của Việt Nam không dễ dàng xuất khẩu.

Trong khi đó, dù mặt xã hội hóa là điểm yếu nhất của ngành lại ít thấy đề cập trong chiến lược cho 10 năm tới. Số việc làm trong lâm nghiệp chỉ tương đương với 2-2,5 triệu lao động, không phải 5 triệu lao động); và thu nhập bình quân hàng tháng từ lâm nghiệp của mỗi hộ đó mới quan trọng, vì vậy cần bổ sung chỉ tiêu thu nhập bình quân của một hộ lâm nghiệp/năm.

Trong rung can chu y chat chu khong phai so luong
Chuyên gia lâm nghiệp Đoàn Diễm

Vị chuyên gia cũng cho rằng, cần bổ sung chỉ tiêu về chất lượng rừng tự nhiên, bao gồm tỷ lệ rừng giàu và trung bình tăng bao nhiêu % so với năm kiểm kê trước đó.

Tầm nhìn đến 2050 cần nhấn mạnh:  bảo vệ môi trường rừng chủ yếu là rừng tự nhiên và  cung ứng lâm sản sẽ là hai nhiệm vụ trọng tâm  ngành lâm nghiệp; Dự thảo chỉ tập trung vào mục tiêu kinh tế là chưa đầy đủ , đặc biệt nếu tầm nhìn đến 2050 vì chắc chắn sau 2030 bảo vệ môi trường sẽ là nhiệm vụ trọng tâm của ngành.
 
Phương hướng phát triển trong tương lai cần “Xây dựng lâm phận quốc gia ổn định trên cơ sở  hoàn thành đo đạc giải thửa, hồ sơ quản lý rừng và đóng mốc ranh giới rừng cho cả 3 loại rừng: rừng tự nhiên, rừng phòng hộ, rừng sản xuất". Đặc biệt, đối với rừng sản xuất cần bổ sung “xây dựng các vùng nguyên liệu tập trung cho công nghiệp chế biến lâm sản và phát triển hệ thống rừng trồng gỗ lớn có năng suất và chất lượng cao với sự tham gia của các thành phần kinh tế".

Bản chiến lược nêu chung chung tăng cường xã hội hóa trong ngành nhưng cụ thể ra sao thì giải pháp lại không rõ. Vị chuyên gia nhấn mạnh, cần làm rõ sự tham gia của cộng đồng và nhóm hộ trong bảo vệ rừng ít  được chú ý, cần bổ sung, đặc biệt là sự phối hợp giữa các chủ rừng nhà nứóc với  cộng đồng dân cư và chính quyền địa phương.

Thúc đẩy kinh tế tư nhân trong phát triển lâm nghiệp

Có chung quan điểm như vậy, TS. Nguyễn Bá Ngãi- Hội Chủ rừng Việt Nam cho rằng, bản chiến lược của Bộ Nông nghiệp thiếu quan điểm rõ ràng của Bộ trong tương lai 15 năm nữa.

Ông cho rằng, cần nêu rõ về thực trạng lâm nghiệp hiện nay trong bản chiến lược để làm nổi bật về chiến lược, sự đột phá của ngành trong tương lai. Điều mà bản chiến lược thiếu nhất là quan điểm của Bộ về sự phát triển ngành lâm nghiệp đến năm 2030, 2050.

"Có ba quan điểm chính: Một là quan điểm sản xuất theo chuỗi giá trị, Hai là sử dụng dịch vụ hệ sinh thái, Ba là quan điểm về xã hội hóa. Xác định giai đoạn 2006-2020 là gì, giai đoạn 2020-2030 đột phá thế nào thì mới thấy rõ sự chuyển biến tích cực của cơ quan soạn thảo nhằm thay đổi một cách cục bộ hiện trạng ngành lâm nghiệp hiện nay" - TS. Nguyễn Bá Ngãi nhận xét.

"Vì chúng ta không có một ngành nào khẳng định là người chịu trách nhiệm, có vai trò trụ cột trong các vấn đề liên quan đến môi trường. Do đó mới nảy sinh việc đổ lỗi cho nhau ở các ngành liên quan đến sạt lở đất. Nếu chúng ta khẳng định, ngành nông nghiệp là ngành chịu trách nhiệm trụ cột về bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước thì sau này, bất cứ vấn đề gì liên quan đến rừng, phải đứng mũi chịu sào, giải trình với Quốc hội. Nếu khẳng định được ngành nông nghiệp sẽ giữ vai trò trụ cột trong bảo vệ môi trường của đất nước thì cần nêu rõ trong chiến lược này" - vị chuyên gia nêu vấn đề.

Trong rung can chu y chat chu khong phai so luong
TS. Nguyễn Bá Ngãi- Hội Chủ rừng Việt Nam

TS. Nguyễn Bá Ngãi cũng nhấn mạnh, trong vấn đề xã hội hóa ngành lâm nghiệp cần tập trung thúc đẩy vai trò của kinh tế tư nhân trong trồng rừng và chế biến lâm sản. Khi đặt mục tiêu như vậy, cần tập trung mọi giải pháp vào ý tưởng này.

Cần chú ý, nếu trồng rừng thực sự có hiệu quả, "người dân sẵn sàng bỏ trồng mía, trồng rau muống để trồng rừng sản xuất".

Theo vị chuyên gia, quan điểm về "độ che phủ" hay "rừng sản xuất" cũng cần chú ý lại. Hiện nay, ở các đô thị cũng có thể "trồng rừng".

"Cây xanh bao gồm 3 loại nhóm: cây trồng rừng đặc dụng, cây phân tán và hệ thống cây xanh khác. Ở đây ngành lâm nghiệp cần đặc biệt chú ý đến cây trồng rừng đặc dụng và cây phân tán. Chiến lược chưa đề cập đến cây phân tán. Thực tế số lượng này rất lớn. 1 năm trồng khoảng 50 triệu cây phân tán sẽ thành 50.000 ha rừng. Hiện nay diện tích rừng tập trung bình quân khoảng 250.000 ha/năm nhưng chưa đề cập đến số cây phân tán" - TS. Nguyễn Bá Ngãi nhận xét.

Ông Ngãi cho rằng, nhắc đến chiến lược thì đó phải là hoạt động trong tương lai mà khi thực hiện thì phải làm xoay chuyển để đạt một ngưỡng mới về lượng và chất. Nếu trong giai đoạn 2006-2020 đang làm rất tốt thì giai đoạn mới nếu muốn có đột phá thì phải có sự đột phá hơn, đó là về chất lượng rừng. 

Cúc Phương

Thứ Sáu, 20/11/2020 13:32

Sự Kiện