Sản xuất cấu kiện tiền chế trong lĩnh vực xây dựng

(Liên hiệp hội) - Viện Công nghệ GFS đề xuất một số chính sách và giải pháp tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ các doanh nghiệp trong đầu tư xử lý tro, xỉ thải...

Tại Hội nghị Đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ Việt Nam triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức ngày 15/9, nhiều giải pháp, thành tựu nghiên cứu cụ thể, thiết thực đã được báo cáo tại Hội nghị, trong đó nhiều đề tài vừa có ý nghĩa lâu dài, vừa giải quyết các vấn đề cấp bách đang đặt ra.

Một trong những đề tài được quan tâm tại Hội nghị là đề tài “Sản xuất cấu kiện tiền chế trong lĩnh vực xây dựng” của Viện Công nghệ GFS – thành viên của VUSTA, đồng thời là thành viên của Tập đoàn GFS. Đây là đề tài mang tính thời sự và khoa học, góp phần giải quyết nhu cầu bức thiết về bảo vệ môi trường và nhu cầu nhà ở của hàng triệu người dân lao động trong cả nước.

Trình bày tại hội nghị, TS Nguyễn Hồng Hạnh, Phó Chủ tịch kiêm Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn GFS, Phó Viện trưởng Viện Công nghệ GFS cho biết, dự kiến tới năm 2021 sẽ có thêm nhiều dự án nhiệt điện than được đưa vào hoạt động, tiêu thụ khoảng 60 triệu tấn than/năm và phát sinh khoảng 20,5 triệu tấn tro xỉ, thạch cao.

Hiện nay, tro xỉ, thạch cao phát sinh từ các nhà máy nhiệt điện than được tái sử dụng làm nguyên liệu sản xuất xi măng, làm bê tông và làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng. Để xử lý hàng triệu  tấn xỉ thải đang gây ô nhiễm môi trường tại các Trung tâm nhiệt điện thành vật  liệu, cấu kiện tiền chế chất lượng cao, cách âm, cách nhiệt phục vụ xây dựng các công trình dân dụng, giao thông, thủy lợi; đặc biệt các công trình cần bền vững  trong môi trường biển.

Một bài toán khác là làm thế nào để có thể thay thế nhiều triệu mét sàn, nhà chung cư cũ đã  xuống cấp tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM, sao cho đảm bảo  chất lượng, mỹ thuật tốt, giá thành cạnh tranh, tiến độ thi công nhanh và đặc biệt  không gây ô nhiễm bụi, ô nhiễm tiếng ồn trong nội đô; đảm bảo hài hòa, đồng  thuận được lợi ích các thành phần trong xã hội, đẩy mạnh chỉnh trang đô thị văn  minh hiện đại. 

Cùng với đó là bài toán đáp ứng nhiều triệu mét sàn, nhà ở cho người công  nhân tại các khu công nghiệp trong cả nước, nhu cầu này đặc biệt bức thiết  không chỉ khi cần áp dụng chính sách “ba tại chỗ” tại các khu công nghiệp trong  tình hình đại dịch Covid đã và đang diễn ra hiện nay.

Nhu cầu này đòi hỏi phải đảm bảo hạ tầng, các tiện ích cần thiết, tối thiểu để người lao  động yên tâm làm việc: Nhà sinh hoạt cộng đồng, nhà trẻ, y tế, siêu thị, thư viện, sân thể thao… như mô hình 50 khu thiết chế công đoàn đang chuẩn bị tiến hành thí điểm tại các tỉnh thành.

Bên cạnh đó, chất lượng và mỹ thuật công trình được nâng cao, thay đổi  mặc định nhà ở công nhân, nhà ở xã hội là chất lượng thấp. Giá thành cạnh tranh để đảm bảo phù hợp với sức mua, sức thuê của người lao động.

San xuat cau kien tien che trong linh vuc xay dung
TS. Nguyễn Hồng Hạnh, Phó Viện trưởng Viện Công nghệ GFS phát biểu tại Hội nghị

Theo lãnh đạo Viện Công nghệ GFS, để đạt các mục tiêu nêu trên về giải pháp kinh tế - kỹ thuật cần dựa trên hai cơ sở vững chắc, đó là khoa học công nghệ trong lĩnh vực công nghiệp xây dựng - tiền chế và cấu kiện tiền chế được sản xuất hàng loạt lớn theo quy mô công nghiệp. Cụ thể:

Thứ nhất, là khoa học công nghệ trong lĩnh vực công nghiệp xây dựng - kiền chế:
Tích hợp liên tục tiến bộ khoa học kỹ thuật trong và ngoài nước, bao gồm khoa học công nghệ vật liệu, kết cấu, nền móng, số hoá và giải pháp phần  mềm IT trong xử lý thiết kế và quản lý, điều hành.

"Hiện nay, Viện Công nghệ GFS thuộc Tập đoàn GFS đã sở hữu trên 40  phát minh sáng chế và liên tục tích hợp các thành tưu khoa học công nghệ trong  và ngoài nước. Với tiến bộ khoa học kỹ thuật xây dựng nói chung và công nghệ  tiền chế nói riêng, có thể tiết giảm giá thành từ 10-20% chi phí xây dựng", Phó Viện trưởng Viện Công nghệ GFS nói.

Cũng theo TS Nguyễn Hồng Hạnh, thế giới hiện đã có những bước tiến xa trong xây dựng nhà tiền chế. Chẳng hạn, một toà nhà 10 tầng tại Trung Quốc có thể được lắp ráp hoàn thiện  trong 28 giờ hay một tòa nhà khách sạn Marriott tại New York 26 tầng được sản xuất tại  Ba Lan và lắp ráp trong 90 ngày.

Thứ hai, cấu kiện tiền chế được sản xuất hàng loạt lớn theo quy  mô công nghiệp. Các cấu kiện điển hình có tính lắp lẫn cao được sản xuất với quy mô công  nghiệp lớn, là cơ sở cho số hóa, tự động hóa trong công nghiệp xây dựng, giảm  dần tỷ trọng lao động thủ công trong xây dựng.

"Một doanh nghiệp có sản lượng dưới 500 ngàn m2 sàn xây dựng trong một năm  chưa phát huy được sức mạnh của công nghiệp hoá xây dựng nhưng một doanh  nghiệp có sản lượng trên một triệu m2 sàn xây dựng trong 1 năm bắt đầu phát huy sức  mạnh của công nghiệp hoá, sản xuất hàng loạt. Yếu tố sản lượng lớn có thể tiết  giảm 10-20% giá thành xây dựng. Vai trò đơn hàng xây dựng lớn là bà đỡ quan  trọng cho giảm giá thành xây dựng", bà Hạnh nhận xét.

Đây là một đề tài lớn, được Tập đoàn GFS triển khai trên cơ sở hợp tác chặt chẽ, hài hòa với nhiều tổ chức, nhiều doanh nghiệp, và đặc biệt là phù hợp với sức mua, sức thuê của người lao động. Viện Công nghệ GFS đã và đang hợp tác với VUSTA và các Hội, Viện thành viên của VUSTA; Hội Vật liệu Xây dựng Việt Nam; Hội Kết cấu và Công nghệ Xây dựng Việt Nam; Hội Kiến trúc sư Việt Nam, các trường đại học trong và ngoài nước, các tổ chức, doanh nghiệp khoa học công nghệ, … đồng thời cập nhật thường xuyên với các tổ chức khoa học kỹ thuật xây dựng quốc tế để đưa sản phẩm có sức cạnh tranh cao, khắc phục các hạn chế còn tồn tại.

Viện Công nghệ GFS đề xuất một số chính sách và giải pháp thiết thực, tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ các doanh nghiệp trong đầu tư xử lý tro, xỉ thải, sản xuất cấu kiện xây dựng tiền chế; quy định rõ hơn về quỹ đất thương mại 20%  để nhà đầu tư được sử dụng xây dựng nhà ở thương mại…

Trong đó, về xử lý tro, xỉ thải, TS Nguyễn Hồng Hạnh dẫn cảnh báo của PGS.TS Trương Duy  Nghĩa, Chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật Nhiệt Việt Nam cho biết, tro xỉ  nếu không được sử dụng, dự kiến đến 2030, chúng ta sẽ có 422 triệu tấn tro xỉ  tồn đọng.

Đấy là con số khủng khiếp và nguyên nhân khiến tro xỉ tại các nhà máy nhiệt điện  than chưa được sử dụng nhiều chủ yếu là do chúng ta vẫn chưa đủ tiêu chuẩn, quy chuẩn để làm được vấn đề này. Mặc dù vấn đề tro xỉ nhiệt điện than hiện nay rất nóng, nhưng việc xây dựng, ban hành  các tiêu chuẩn, quy chuẩn sử dụng tro xỉ của các cơ quan chức năng còn chậm,  không đáp ứng được yêu cầu. Do đó, cả người sản xuất cũng như người sử dụng  đều gặp vướng mắc.

Theo bà Hạnh, về lâu dài phải giải quyết được vấn đề chất lượng tro xỉ thải ra từ các nhà máy nhiệt điện than, có thể sử dụng tốt cho sản xuất vật liệu  xây dựng. Bà đề nghị Chính phủ có những chính sách và giải pháp thiết thực, tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ các doanh nghiệp trong đầu tư xử lý tro, xỉ thải, sản  xuất cấu kiện xây dựng tiền chế, vì đây là vấn đề môi trường cấp thiết phải được  xử lý nhanh, đồng thời việc cấp đất cho DN cần nhanh và hiệu quả hơn vì hiện  nay theo quy trình còn rất chậm.

Đối với khu thiết chết công đoàn: Viện Công nghệ GFS đề nghị cần quy định rõ hơn về quỹ đất  thương mại 20% để nhà đầu tư được sử dụng xây dựng nhà ở thương mại. Phương pháp tính toán cần rõ ràng 20% trên tổng diện tích đất xây dựng nhà ở  (tuy nhiên trên văn bản không định nghĩa thế nào là "tổng diện tích đất để xây  dựng nhà ở" trong thực tiễn đã nhiều địa phương có văn bản hỏi Bộ Xây dựng về  nội dung này nhưng chưa được giải quyết triệt để).

Về quỹ đất làm nhà ở xã hội trong các khu dự án nhà ở thương  mại, Viện Công nghệ GFS đề xuất Chính phủ xem xét lại các quy định về quỹ đất, khu vực làm nhà xã  hội tại nghị định 49/2021/ NĐ - CP ngày 01/4/2021. Ví dụ : dự án trong khu đô thị loại đặc biệt, loại 1, quy định dự án từ 2 ha trở lên phải dành 20% quỹ đất để  làm nhà ở xã hội ngay trong khu dự án là không hợp lý (trước đây đóng bằng tiền) 

Theo Viện Công nghệ GFS, do tính chất của nhà ở xã hội khác với tính chất của nhà thương mại vì vậy cần phải quy hoạch riêng biệt mới hợp lý, vì quy hoạch đô thị theo phân khúc thị trường, có thu nhập khác nhau thì ở những khu vực khác nhau phù hợp với thu nhập của họ. 

Nhà ở xã hội nên xây khu riêng sẽ giảm được chi phí hạ tầng cho nhà đầu tư và người lao động. Đồng thời giao chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội trong kế  hoạch 5 năm và hàng năm.

Về chính sách tài chính,  tại Nghị định 49 đang quy định mức lãi suất vay vốn mua nhà không cao hơn 50% lãi suất cho vay bình quân của các ngân  hàng thương mại. Đại diện Viện Công nghệ GFS đề suất bổ sung chính sách huy động vốn dài hạn cho  hoạt động phục vụ đầu tư xây dựng cho người mua nhà ở xã hội, công nhân mua nhà tại các khu thiết chế công đoàn không vượt quá 40% lãi suất cho vay bình quân của các ngân hàng thương mại bởi công nhân có thu nhập thất và hoàn cảnh khó khăn.

Minh Thái

Thứ Sáu, 17/09/2021 08:06

Sự Kiện