Vẫn "mê" nhiệt điện than, vốn ở đâu?

(Khoa học) - Dự thảo Quy hoạch Điện VIII vẫn "mê" nhiệt điện than, nguồn vốn được tính toán đưa vào vẫn khá lớn, song để thu xếp được vốn là điều khó khăn. 

Dự thảo Quy hoạch Điện VIII đã giảm tỷ trọng nhiệt điện than trong cơ cấu công suất từ 34% năm 2020 xuống 27% vào năm 2030, tuy nhiên nguồn năng lượng này vẫn còn phát triển nhiều tới tận năm 2045.

Các nhà máy nhiệt điện than vẫn tiếp tục được xây dựng, trong khi các nhà máy nhiệt điện than mới được xác định phải sử dụng than nhập khẩu, do than trong nước không đủ cho các nhà máy điện trong tương lai.

Trong dự thảo, ở cả hai giai đoạn 2021 - 2030 và 2030 - 2045, trung bình mỗi năm đều cần đầu tư gần 13 tỷ USD để cho điện (nguồn điện và lưới điện). Đặc biệt, nguồn vốn dành cho nhiệt điện than vẫn được tính toán đưa vào khá lớn.

Chẳng hạn, giai đoạn 2021-2025, nguồn điện chiếm 73,1% cơ cấu vốn đầu tư ngành điện thì trong đó nhiệt điện than chiếm 24,5%. Tới giai đoạn 2026-2030, khi nguồn điện chiếm 75,8% cơ cấu vốn đầu tư ngành điện thì nhiệt điện than tuy có giảm nhưng vẫn chiếm tới 17,3%. Giai đoạn 2021-2045, vốn cho nhiệt điện than vẫn chiếm tới 14,7% trong tổng vốn đầu tư vào nguồn điện.

Trao đổi với Đất Việt, ông Trần Đình Sính, Phó Giám đốc Trung tâm Phát triển Sáng tạo Xanh (GreenID) đánh giá, khả năng huy động vốn cho nhiệt điện than là không mấy dễ dàng trước xu hướng thoái trào của nhiệt điện than và các chính sách thắt chặt tài chính của nhiều chính phủ và tổ chức tài chính cho loại năng lượng này.

Bên cạnh đó là sự tham gia ngày càng đông đảo của các cá nhân, tổ chức trên toàn thế giới trong việc nói không với đầu tư vào nhiên liệu hóa thạch để đạt được mục tiêu giới hạn mức tăng nhiệt độ toàn cầu không quá 2 độ C so với thời kì tiền công nghiệp. Trong khi đó, năng lượng tái tạo đang trở thành sự lựa chọn thay thế của nhiều quốc gia trên thế giới, cùng với nguồn tài chính tăng mạnh đầu tư vào nguồn năng lượng này.

Ngay trong dự thảo Quy hoạch Điện VIII, đơn vị tư vấn cũng thừa nhận, việc huy động nguồn vốn đầu tư cho các dự án nguồn điện lớn gặp khó khăn, đặc biệt là đối với các dự án điện than.

Van
Nguồn vốn đầu tư cho nhiệt điện than ngày càng khó khăn. Ảnh minh họa

Năm 2017, GreenID đã có báo cáo “Phát triển nhiệt điện than ở Việt Nam: Góc nhìn tài chính” trong đó chỉ rõ, việc phát triển nhiệt điện than ở Việt Nam phụ thuộc phần lớn vào nguồn tài chính nước ngoài.

Số liệu do GreenID công bố cho thấy, Trung Quốc là quốc gia cấp vốn vay nhiều nhất cho nhiệt điện than ở Việt Nam, tiếp đó là Nhật Bản và Hàn Quốc.

Nguồn vốn được cung cấp chủ yếu qua các cơ quan tín dụng xuất khẩu của những quốc gia này, bao gồm Ngân hàng Xuất Nhập khẩu Trung Quốc, Ngân hàng Xuất Nhập khẩu Hàn Quốc (Kexim), Công ty Bảo hiểm Thương mại Hàn Quốc (K-sure) và Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC).

Bên cạnh các cơ quan tín dụng xuất khẩu, ngân hàng thương mại các nước cũng giữ vai trò rất quan trọng, trong đó bốn ngân hàng của Trung Quốc (Ngân hàng Phát triển Trung Quốc, Ngân hàng Công thương Trung Quốc, Ngân hàng Trung Quốc và Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc) chiếm tới 80% nguồn tài chính của nhóm các ngân hàng thương mại. 

Báo cáo chỉ rõ, bằng việc cung cấp tài chính cho các dự án nhiệt điện than ở Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc đã đạt được mục đích mở rộng thị trường cho các công ty thiết kế, cung cấp thiết bị và xây dựng của những quốc gia này. Điều này đặc biệt quan trọng với Trung Quốc, nơi mà hàng loạt các công ty trong lĩnh vực nhiệt điện than bị giảm thị phần do vấn đề dư thừa công suất điện than, lo ngại ô nhiễm môi trường và cạnh tranh của năng lượng tái tạo.

Với Trung Quốc, động lực đầu tiên trong việc cung cấp tài chính cho các dự án nhiệt điện than ở nước ngoài là để xuất khẩu các hợp đồng thiết kê, mua sắm thiết bị và xây dựng. Nói cách khác, để hỗ trợ các công ty sản xuất thiết bị nhiệt điện than Trung Quốc xuất khẩu được sản phẩm của họ (như lò hơi, tua bin, máy phát...) sang nước ngoài, các ngân hàng chính sách của Trung Quốc cùng các ngân hàng thương mại cấp vốn dưới dạng tín dụng người mua cho các chủ dự án ở nước ngoài để mua thiết bị từ các công ty Trung Quốc.

Vì vậy, thông thường, đi kèm với các khoản cho vay của ngân hàng Trung Quốc là các hợp đồng thiết kế-mua sắm-xây dựng (EPC) do các nhà thầu Trung Quốc thực hiện. Tập đoàn Điện lực Đông Phương (Dofang), Chengda, Tập đoàn Điện khí Nhân dân Trung Quốc, Kaidi, Tập đoàn Điện khí Thượng Hải, Viện Thiết kế Điện lực Quảng Đông (GEDI)... là những cái tên quen thuộc của những tổng thầu EPC trong các dự án nhiệt điện than tại Việt Nam.

Hoạt động cấp vốn vay cho các dự án nhiệt điện than còn giúp mở đường đầu tư cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng đi kèm và nhập khẩu tài nguyên của quốc gia này, đồng thời nâng cao sức mạnh kinh tế và chính trị của Trung Quốc trong khu vực và trên thế giới.

"Như vậy, trong khi những quốc gia cho vay vốn nhận được những lợi ích về kinh tế và chính trị thì những gì Việt Nam nhận được là nợ nần và rủi ro về môi trường, sức khỏe và an ninh chính trị quốc gia", GreenID chỉ rõ.

Từ đó đến nay, theo ông Trần Đình Sính, tình hình trên không mấy thay đổi khi chỉ có một vài nhà máy nhiệt điện được đưa vào vận hành. Riêng về tài chính, nhiều ngân hàng không đầu tư vào nhiệt điện than nữa, nguồn vốn chủ yếu cho nhiệt điện than Việt Nam vẫn đến từ các ngân hàng nước ngoài, còn ngân hàng Việt Nam dù có nhưng không đáng kể.

Phó Giám đốc GreenID lưu ý, khi vay vốn nước ngoài thì Chính phủ phải bảo lãnh, trong khi nợ công của Việt Nam ở mức cao. Do đó, trong những năm gần đây, vốn vay nước ngoài cho các dự án điện của Việt Nam  có xu hướng giảm để đảm bảo an toàn nợ công, mức bảo lãnh vay của Chính phủ cho ngành điện cũng đã giảm so với trước.

Góp ý cho dự thảo Quy hoạch Điện VIII, một số đơn vị, trong đó có Ngân hàng Nhà nước kiến nghị giảm tỷ lệ năng lượng tái tạo, song theo ông Sính, điều này không đồng nghĩa với việc ngân hàng sẽ đổ thêm vốn vào nhiệt điện than.

"Yêu cầu đầu tiên đối với ngân hàng khi cho vay là không bị mất vốn, trong khi nhiệt điện than nhiều rủi ro", ông nói.

Tín dụng xanh còn rụt rè

Trong khi việc huy động tài chính cho nhiệt điện than ngày càng trắc trở thì đối với năng lượng tái tạo, nguồn tín dụng đổ vào vẫn còn khiêm tốn.

Hiện tín dụng cho năng lượng tái tạo là một trong 12 lĩnh vực xanh được Ngân hàng Nhà nước thực hiện theo dõi dư nợ tín dụng. Việt Nam có 31 tổ chức tín dụng có phát sinh dư nợ đối với các dự án xanh với dư nợ trên 285.000 tỷ đồng, chủ yếu tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp sạch và năng lượng tái tạo.

Tuy nhiên, như đại diện các tổ chức tín dụng nhận xét, đầu tư vào lĩnh vực xanh thời gian hoàn vốn dài, chi phí đầu tư lớn, rủi ro thị trường nên việc thẩm định dự án phức tạp, trong khi nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng chủ yếu là ngắn hạn theo chi phí vốn thương mại trên thị trường; các chỉ tiêu cụ thể để phân loại ngành/lĩnh vực chưa cụ thể; năng lực của các tổ chức tín dụng trong phát triển các sản phẩm tín dụng xanh mới ở bước đầu... Đặc biệt, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) có quyền từ chối mua trong hợp đồng mua bán điện, dẫn tới khó thẩm định chính xác được doanh thu của dự án trong quá trình thẩm định tín dụng...

Lý do khác khiến ngân hàng rụt rè đổ vốn vào các dự án năng lượng tái tạo, theo ông Trần Đình Sính, đó là chính sách đối với năng lượng tái tạo chưa rõ ràng, hay thay đổi, hạn chế thời gian, hạn chế đấu nối, hay bị cắt giảm công suất...

Khẳng định các ngân hàng không thiếu tiền và trên thị trường, nhiều tổ chức, tập đoàn sẵn sàng mua điện từ năng lượng tái tạo với giá cao hơn, song một lần nữa vị chuyên gia lưu ý, "chính sách là tài nguyên". Muốn phát triển năng lượng tái tạo thì quan trọng nhất là chính sách phải rõ ràng, ổn định và lâu dài để nhà đầu tư thực sự yên tâm đầu tư.

Thành Luân

Thứ Bảy, 27/03/2021 06:42

Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện