11 năm, lượng nước sông Mekong về ĐBSCL giảm 157 tỷ m3

(Khoa học) - Cùng với đó lượng phù sa bùn cát năm 2020 cũng giảm tương ứng 14 triệu tấn so với năm 2017 (37%).

Đây là con số mà cuộc kiểm toán việc quản lý nguồn nước lưu vực sông Mekong gắn với thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững do Kiểm toán Nhà nước Việt Nam - trên cương vị Chủ tịch Tổ chức các Cơ quan kiểm toán tối cao châu Á (ASOSAI) nhiệm kỳ 2018-2021, đưa ra.

Văn bản pháp lý điều tiết hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước chưa đầy đủ

Cuộc kiểm toán việc quản lý nguồn nước lưu vực sông Mekong gắn với việc thực hiện Mục tiêu phát triển bền vững được thực hiện trong bối cảnh các quốc gia thuộc lưu vực sông Mekong đã và đang phải đối mặt với những thách thức, tác động tiêu cực không thể lường trước từ hiện tượng biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường cũng như việc quản lý, khai thác và sử dụng nguồn nước thiếu bền vững, có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của hơn 65 triệu người dân trong lưu vực.

Bên cạnh những kết quả đạt được, cuộc kiểm toán chỉ ra một số tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý nguồn nước lưu vực sông Mekong giai đoạn 2016 – 2020 như công tác quy hoạch tài nguyên nước chung cả nước, quy hoạch tài nguyên nước của lưu vực sông, nguồn nước liên tỉnh, nội tỉnh chưa kịp thời; một số nhiệm vụ điều tra cơ bản tài nguyên nước chưa cung cấp các thông tin, số liệu đầy đủ phục vụ công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước và Mục tiêu phát triển bền vững; công tác giám sát, kiểm soát hoạt của cơ quan quản lý còn thiếu sự đồng bộ, chưa đảm bảo kết nối từ Trung ương đến địa phương.

Bên cạnh đó, công tác thẩm định, cấp giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước giai đoạn 2016-2020 chưa đảm bảo theo quy định của Luật TNN 2012 và Luật BVMT 2014.

Tình trạng xả nước thải vào nguồn nước đã có dấu hiệu ô nhiễm còn diễn ra, tuy nhiên chưa có sự thống nhất giữa các đơn vị về biện pháp xử lý, giảm thiểu tác động trong quá trình thẩm định, cấp phép.

Công tác thẩm định, cấp giấy phép khai thác khoáng sản lòng sông tại một số địa phương chưa xem xét kỹ lưỡng đến khoảng cách tối thiểu so với đường bờ, phạm vi bảo vệ bờ sông; chưa rà soát, tính toán kỹ lưỡng trữ lượng mỏ, công suất, thời gian khai thác; chưa thực hiện cải tạo phục hồi môi trường, gia cố đường bờ sạt lở sau khai thác; việc quản lý, giám sát khoáng sản tận thu trong quá trình xây dựng thủy điện tại lưu vực sông Mekong chưa chặt chẽ.

11 nam, luong nuoc song Mekong ve DBSCL giam 157 ty m3
Lượng nước sông Mekong và phù sa trên thượng nguồn về ĐBSCL ngày càng suy giảm. Ảnh: TTXVN

Ngoài ra, KTNN cũng xem xét và phản ánh những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn triển khai Hiệp định Mekong 1995 cần phải được các quốc gia trong lưu vực xem xét, nghiên cứu khắc phục, cải thiện nhằm tăng cường hiệu quả hợp tác trong tương lai. Kết quả kiểm toán chỉ rõ: Hiện nay mới có 4/6 quốc gia thuộc lưu vực sông Mekong ký kết Hiệp định Hợp tác phát triển bền vững lưu vực sông Mekong 1995. Văn bản pháp lý (quy chế, sổ tay hướng dẫn, hướng dẫn kỹ thuật…) làm cơ sở điều tiết các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước trên dòng chính và dòng nhánh (như xây dựng thủy điện, hoạt động chuyển nước…) chưa đầy đủ, trong khi các hoạt động phát triển thủy điện dòng nhánh tại các quốc gia thành viên MRC ngày càng nhiều hơn.

Các điều khoản cụ thể để giải quyết tranh chấp, bất đồng giữa các thành viên MRC trong việc sử dụng công bằng và hợp lý nguồn nước lưu vực sông Mekong chưa đầy đủ; thiếu chỉ tiêu, hoạt động liên quan đến đánh giá tác động môi trường và phát triển bền vững quốc tế về quản lý tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông.

Bên cạnh đó, một số thủ tục, các văn bản pháp lý, các Chiến lược toàn lưu vực và các hướng dẫn kỹ thuật của MRC được xây dựng với nội dung khái quát, chưa có sự ràng buộc đầy đủ; một số hướng dẫn kỹ thuật nhằm hỗ trợ thực hiện các Thủ tục và các chương trình hợp tác đã được xây dựng nhưng chưa được thông qua như Hướng dẫn đánh giá danh mục các dự án thủy điện đa mục tiêu (năm 2015), Hướng dẫn kỹ thuật thực hiện Thủ tục Duy trì dòng chảy trên dòng chính (năm 2016), Hướng dẫn Kỹ thuật đánh giá tác động môi trường xuyên biên giới ở vùng Hạ LVS Mekong (năm 2018)…

Việc thực hiện 05 Thủ tục của MRC, như: Thủ tục Trao đổi và Chia sẻ thông tin, số liệu; Thủ tục Thông báo, Tham vấn trước và Thỏa thuận; Thủ tục Duy trì dòng chảy trên Dòng chính; Thủ tục Giám sát sử dụng nước; Thủ tục Chất lượng nước còn một số vấn đề như: các thông tin, số liệu về khí tượng thủy văn, phù sa, bùn cát… chưa thực sự đồng bộ và được cập nhật thường xuyên. Việc giám sát sử dụng nước chưa được triển khai toàn diện do hạn chế về nguồn lực; việc thực hiện tham vấn đối với các dự án khai thác, sử dụng tài nguyên nước trên dòng chính còn gặp một số vướng mắc nhất định trong việc đánh giá đầy đủ các tác động của dự án tới các bên liên quan, đặc biệt là đối với khu vực hạ nguồn sông Mekong…

Trong khi đó, 04 quốc gia thành viên MRC, chỉ có Việt Nam tham gia Công ước Liên Hiệp Quốc UNWC/1997 về Luật sử dụng các nguồn nước quốc tế cho các mục đích phi giao thông thủy 1997, gây khó khăn trong việc tìm kiếm các căn cứ tham chiếu chung khi xử lý vấn đề khác biệt hoặc yêu cầu sự can thiệp của Tòa án Công lý quốc tế.

Lượng nước và phù sa về ĐBSCL suy giảm nhanh

Những bất cập, hạn chế trong công tác quản lý tài nguyên nước nói trên kết hợp với các yếu tố biến đổi khí hậu, sự gia tăng của việc khai thác, sử dụng nước tại các quốc gia thượng nguồn lưu vực sông Mekong dẫn đến những tác động, ảnh hưởng tiêu cực tới Việt Nam, đặc biệt là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) – là nơi sinh sống của hơn 17,3 triệu dân, cung cấp trên 50% sản lượng lúa, 65% sản lượng thủy sản, 70% sản lượng trái cây của cả nước.

Cụ thể: số lượng nước sông Mekong từ thượng nguồn về ĐBSCL năm 2020 giảm 157 tỷ m3 so với năm 2011, cùng với đó lượng phù sa bùn cát năm 2020 cũng giảm tương ứng 14 triệu tấn so với năm 2017 (37%); Số lượng nước năm 2020 giảm 22 tỷ m3 so với năm 2019 (giảm 157 tỷ m3 so với năm 2011);

Tình trạng xâm nhập mặn gây thiệt hại đến khoảng 509.804 ha diện tích cây trồng, 486.000 hộ bị thiếu nước sinh hoạt; 1.509.528ha đất bị suy thoái chất lượng do giảm độ phì; 2.158 vụ sạt lở thiệt hại ước tính 1.078,9 tỷ đồng; trữ lượng đánh bắt thủy sản tự nhiên sụt giảm 12.644 tấn ước tính 770 tỷ đồng; chất lượng nước tại nhiều con sông, kênh, rạch đều ghi nhận tình trạng ô nhiễm là nguyên nhân dẫn đến 84.672 ca bệnh theo thống kê của ngành y tế trong giai đoạn 2016 - 2020;

Nhiều địa phương phản ánh sự suy giảm về số loài và số lượng cá thể nhiều loại sinh vật, thủy sản đặc trưng của sông Mekong; đồng thời cũng góp phần dẫn đến tình trạng hàng trăm ngàn lao động phải di dời khỏi địa phương, rời bỏ các công việc truyền thống để tìm kiếm việc làm tại các thành phố, đô thị lớn.

Trên cơ sở kết quả kiểm toán, KTNN đã kiến nghị Ủy ban sông Mekong Việt Nam chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương liên quan đến việc thực hiện Hiệp định Mekong 1995 nghiên cứu, trao đổi, tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ đề xuất MRC xây dựng các văn bản/hướng dẫn kỹ thuật về giám sát sử dụng nước (bao gồm chuyển nước) trên dòng nhánh; duy trì dòng chảy tối thiểu (trên dòng chính và dòng nhánh sông Mekong); đồng thời đề xuất xây dựng các điều khoản, chế tài cụ thể để giải quyết tranh chấp đối với các bất đồng giữa các quốc gia thành viên trong việc quản lý và sử dụng nước lưu vực sông Mekong.

Đồng thời thúc đẩy MRC thực hiện chuyển giao các hệ thống quan trắc (thủy sản, sức khỏe hệ sinh thái, phù sa bùn cát…) và các quốc gia thành viên đưa vào vận hành hiệu quả các hệ thống này, nhằm đảm bảo cơ sở dữ liệu cho quản lý tổng hợp tài nguyên nước trên toàn lưu vực sông Mekong.

Đồng thời kiến nghị các Bộ, ngành, địa phương ban hành, sửa đổi cơ chế, chính sách theo thẩm quyền nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nguồn nước và bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững đến 2030 ở mỗi quốc gia thành viên Liên hiệp quốc, trong đó có Việt Nam.

Minh Thái

Thứ Sáu, 10/09/2021 09:49

Sự Kiện