Khử mặn bằng năng lượng gió: Có thay thế được hồ chứa?

(Công nghệ) - GS.TSKH Lê Huy Bá cho rằng có thể làm song song các nhà máy khử nước mặn với các hồ chứa nước ngọt không quá lớn. 

Một biên bản ghi nhớ hợp tác phát triển các nhà máy khử mặn bằng năng lượng gió để sản xuất nước ngọt cho nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam vừa được một tập đoàn của Việt Nam ký kết với tập đoàn hàng đầu của Vương quốc Bỉ về phát triển năng lượng bền vững và hạ tầng môi trường.

Theo đó, hai bên sẽ phối hợp với Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp (Bộ NN-PTNT) xây dựng một hệ thống thí điểm khử mặn nước sông bằng năng lượng gió có tên gọi "WATER-BY-WIND" (WBW) tại tỉnh Ninh Thuận.

Sau thử nghiệm thành công, hai bên sẽ tiến hành khảo sát về khả năng thiết lập một mạng lưới các hệ thống WBW tại nhiều tỉnh thành của Việt Nam bị ảnh hưởng nặng nề bởi sự xâm nhập mặn và ngập úng; đồng thời hướng đến mục tiêu xây dựng một nhà máy sản xuất hệ thống WBW tại Việt Nam để giảm chi phí sản xuất và chủ động về công nghệ.

Hoan nghênh việc thử nghiệm khử mặn nước bằng năng lượng gió, GS.TSKH Lê Huy Bá, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Công nghệ và Quản lý Môi trường cho biết, nhiều quốc gia trên thế giới đã áp dụng công nghệ này và Việt Nam cũng có thể làm được vì nguyên lý khá đơn giản, sử dụng phương pháp thẩm thấu ngược (RO) với màng lọc.

Đi đầu trong việc áp dụng công nghệ này để giải quyết tình trạng khan hiếm nước ngọt phải kể đến Israel. Ngoài việc sử dụng năng lượng gió, GS Bá cho biết các nước sử dụng cả năng lượng mặt trời, sóng biển để cung cấp điện cho hoạt động này.

Không những vậy, ngày nay ở Israel còn áp dụng công nghệ lấy nước từ không khí. Nguyên lý giống như chạy điều hòa, nhưng điều hòa thì chỉ cho hiệu suất nhỏ, còn trong không khí luôn có nước. Các nhà khoa học dùng thiết bị để hút không khí ẩm, sau đó ngưng tụ chúng thành nước và lọc, biến lượng nước này thành nước có thể uống được.

Công nghệ này hiện rất đắt, được Israel áp dụng để cấp nước uống cho người dân vùng sa mạc. Đối với Việt Nam, điểm thuận lợi là độ ẩm không khí cao, nếu thực hiện sẽ rẻ hơn và có đủ nguồn nước để cấp cho người dân uống.

Với công nghệ khử mặn nước bằng năng lượng gió mà tập đoàn Việt Nam vừa ký kết hợp tác, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Công nghệ và Quản lý Môi trường lưu ý, quan trọng nhất là vấn đề chi phí, phải tính toán làm sao để chấp nhận được, còn nếu ở mức giá trên trời thì e rằng đó chỉ là chuyện... cho vui, khó nhân rộng được ra các tỉnh thành khác.

Khu man bang nang luong gio: Co thay the duoc ho chua?
Sẽ thí điểm xây dựng hệ thống khử mặn nước bằng năng lượng gió tại Ninh Thuận. Ảnh minh họa

Ủng hộ các địa phương bị hạn mặn của Việt Nam áp dụng công nghệ nêu trên, GS.TSKH Lê Huy Bá cũng lưu ý đến việc nhiều nơi như Ninh Thuận, Bình Thuận, ĐBSCL có xu hướng xây hồ chứa nước ngọt để chống hạn mặn. Vị chuyên gia môi trường khẳng định, hồ chứa nước ngọt là một giải pháp tốt để giải quyết vấn đề thừa nước trong mùa mưa và thiếu nước trầm trọng trong mùa khô.

"Kỳ vọng các nhà máy khử mặn bằng năng lượng tái tạo có thể thay thế giải pháp làm hồ chứa nước có lẽ còn xa. Tuy nhiên, sau này, các địa phương có thể tiến hành song song xây hồ chứa với các công trình khử nước mặn bằng năng lượng tái tạo, tất nhiên là phải tính toán về mặt kinh tế. Như Ninh Thuận là nơi điện gió, điện mặt trời đều phát triển, thuận lợi cho việc áp dụng công nghệ này", GS.TSKH Lê Huy Bá nhận xét.

Cho rằng xây hồ chứa nước vẫn là phương pháp cổ điển ở những vùng khô hạn, bị nhiễm mặn, song GS Bá cũng lưu ý đến một số vấn đề mà cơ quan chuyên môn và địa phương phải tính tới nếu xây hồ.

Chẳng hạn, với điều kiện của ĐBSCL, chỉ nên xây dựng các hồ phân tán, cục bộ cho từng vùng thiếu nước ngọt cho những mục tiêu thiết yếu với quy mô khoảng vài chục ha.

Từ cách đây mấy chục năm, khi nghiên cứu về đất phèn Nam Bộ, ông Bá đã đề nghị xây dựng các hồ sinh thái, hồ chứa nước mưa không cần quá lớn theo kiểu nửa nổi nửa chìm. Chẳng hạn, vùng Mỏ Vẹt - vùng ranh giới giữa Việt Nam và Campuchia (thuộc tỉnh Long An) là vùng trũng có thể làm hồ chứa được, hay ở Kiên Giang, Gò Công (Tiền Giang) có thể làm hồ sinh thái...

Tuy nhiên, vị chuyên gia thừa nhận làm hồ chứa ở ĐBSCL phải đối mặt với tình trạng khá đau đầu là xì phèn. Đây là vấn đề phải lo vì nền đất ở ĐBSCL cách đây mấy nghìn năm là vùng biển cũ, dưới lớp phù sa mới còn rất nhiều tàn tích của rừng sú vẹt cũ, hàm lượng hữu cơ cao, có khả năng bị xì phèn lên. Qua khảo sát của ông trước đây, lưu huỳnh trong đất ở ĐBSCL rất cao, có nơi tới 4-5%.

"Cách lớp đất mặt khoảng 1,5m trở xuống là có tầng sinh phèn. Trong điều kiện thời tiết nắng nóng kéo dài làm cho các tầng đất chứa yếu tố sinh phèn dễ bị oxy hóa, dẫn đến hiện tượng xì phèn", GS Bá giải thích.

Về hướng xử lý, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Công nghệ và Quản lý Môi trường cho rằng, trước mắt có thể sử dụng vải địa chất để trải xuống hồ. Cách này rẻ tiền nhưng sau khoảng dăm bảy năm lại phải thay. Quan trọng là phải xử lý nền thật kỹ, bằng cách gia cố bằng đất sét nền bằng cách nhào nặn thành một lớp bê tông đất để nước mặn không thẩm thấu vào, phèn không bị xì lên. Cùng với đó, thành hồ cũng phải được gia cố vững chắc bằng xi măng.

Riêng với Ninh Thuận, Bình Thuận, GS.TSKH Lê Huy Bá lưu ý không thể làm hồ chứa bằng cách lấy đất sét làm nền đáy như ở ĐBSCL. Hai địa phương này thuộc cực Nam Trung Bộ có điều kiện khí hậu khô hạn nhất cả nước. Lượng mưa trung bình hàng năm ở đây rất thấp, chỉ từ 1.000-1.400mm, không đủ cân bằng với lượng nước bốc hơi. Ngay cả trong những năm bình thường, cả Ninh Thuận và Bình Thuận vẫn luôn ở trong tình trạng thiếu nước.

Chính vì vậy, vị chuyên gia cho rằng, ngoài việc tính toán chi phí để xây dựng nhà máy khử mặn nước bằng năng lượng tái tạo thì Ninh Thuận, Bình Thuận vẫn cần làm hồ chứa, không cần quá lớn, miễn sao đủ nước cho mùa khô. Nền đáy của các hồ chứa này phải  được tráng bằng lớp xi măng không thấm nước.

"Ở Ninh Thuận, Bình Thuận hay ĐBSCL, việc xây dựng hồ chứa đều phải phụ thuộc vào quy hoạch ban đầu, không phải muốn làm ở đâu thì làm. Quá trình xây dựng hồ cần phân tích vị trí, đánh giá tác động nhiều yếu tố như chiều sâu đào hồ, giải pháp xử lý các vùng đất phèn tiềm tàng, nguồn nước bổ cập cho hồ, thậm chí có thể tận dụng các dòng sông, suối cũ...", GS.TSKH Lê Huy Bá lưu ý.

Thành Luân

Thứ Hai, 13/09/2021 07:55

Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện