Công nghệ Việt bảo quản vải: Doanh nghiệp cần gì?

(Công nghệ) - Công nghệ bảo quản vải muốn được doanh nghiệp chọn phải có cơ sở khoa học thuyết phục, tính ứng dụng cao.

Xung quanh câu chuyện công nghệ nano bảo quản vải tươi cả tháng của nhà khoa học Việt chưa được ứng dụng trên thực tế, PGS.TS Dương Văn Chín (Tập đoàn Lộc Trời) cho rằng, điều còn thiếu là uy tín và tính thuyết phục.

Cong nghe Viet bao quan vai: Doanh nghiep can gi?
Vải thiều Việt Nam đã xuất sang thị trường nhiều nước. Ảnh minh họa

Theo vị chuyên gia, nếu đó là công nghệ có tính ứng dụng cao và mang lại hiệu quả kinh doanh tốt thì doanh nghiệp sẽ không tiếc tiền đầu tư.

Tuy nhiên, hiện nay, đang có sự e ngại từ phía doanh nghiệp khi chọn lựa ứng dụng công nghệ mới đều xuất phát từ tâm lý "chưa yên tâm".

Lý do là công nghệ bảo quản của các nhà khoa học Việt có thể ưu việt, hiệu quả trong quy mô phòng thí nghiệm nhưng chưa chắc đã thành công khi ứng dụng thực tế. Không doanh nghiệp nào muốn đối diện với rủi ro, mất chi phí, mất thời gian để theo đuổi một công nghệ mới, chưa kiểm nghiệm nhiều trong thực tế.

Vì điều này, nhiều doanh nghiệp trong nước không ngần ngại bỏ ra số tiền cao hơn để nhập công nghệ nước ngoài vào chế biến, bảo quản các mặt hàng xuất khẩu. Lý do họ đưa ra là mất thêm một chút chi phí nhưng an toàn, hiệu quả, còn hơn là ham rẻ nhưng rủi ro.

Thông thường công nghệ nước ngoài đã được xuất khẩu đều có tính ứng dụng thực tế rất cao, thử nghiệm trên quy mô rộng và được các cơ quan chức năng có thẩm quyền cấp chứng nhận.

Như vậy, với câu chuyện công nghệ nano bảo quản vải của nhà khoa học Việt phải làm gì để được các doanh nghiệp trong nước biết đến và lựa chọn?

Vị chuyên gia cho rằng, để giải bài toán này không hề khó và cần sự vào cuộc, hợp tác của nhiều bên.

Trước hết là với các nhà khoa học, cần chủ động, giới thiệu, kết nối, thuyết phục được các địa phương tin tưởng, tạo điều kiện thí điểm trên quy mô hẹp.

Ví dụ, muốn ứng dụng công nghệ bảo quản trên quả vải, các nhà khoa học phải làm việc với Sở KH-CN Bắc Giang, Sở NN-PT-NT, thông qua các đơn vị này kết nối với các doanh nghiệp xuất khẩu, thuyết phục các đơn vị đầu tư kinh phí với những cam kết về thời gian và hiệu quả cụ thể.

Sau thời gian thử nghiệm, khi đã cho ra kết quả tốt, sẽ thông qua sở KH-CN, Sở NN-PT-NT quảng bá, giới thiệu công nghệ này tới các doanh nghiệp xuất khẩu trên cả nước.

Nếu thử nghiệm công nghệ thành công doanh nghiệp và địa phương đã đầu tư nguồn kinh phí thí điểm ban đầu có thể xin nhận chuyển giao lại công nghệ mang tính độc quyền hoặc với mức giá ưu đãi nhất.

Ngoài ra, các nhà khoa học cũng có thể làm việc trực tiếp với doanh nghiệp xuất khẩu vải, đưa công nghệ vào ứng dụng với cơ chế chia sẻ: Giúp doanh nghiệp xuất khẩu thành công thì nhà khoa học sẽ được chia sẻ lại phần trăm lợi nhuận trên số hàng xuất khẩu đó. Vấn đề này phải được bàn bạc, thống nhất với doanh nghiệp.

Vấn đề mấu chốt khiến việc ứng dụng công nghệ trên thực tế còn gặp nhiều khó khăn theo PGS.TS Dương Văn Chín chính là về tài chính. Do khi thử nghiệm không phải công nghệ nào cũng thành công ngay mà có khi còn thất bại, khi đó, chi phí đầu tư ban đầu có thể sẽ bị mất trắng. Vì điều này, cả doanh nghiệp và địa phương thường e ngại, không ai muốn mạo hiểm, bỏ tiền ra. Trong khi các nhà khoa học còn nghèo, để có được số tiền từ vài trăm triệu tới hàng tỷ đồng để thực hiện thử nghiệm trên diện rộng là vấn đề rất khó khăn. Đã có không ít những nghiên cứu khoa học, nghiên cứu xong rồi cất trong ngăn tủ là vì thế.

Do đó, để tăng khả năng thành công, vị chuyên gia cho rằng các nhà khoa học cần rất tự tin với nghiên cứu, công nghệ của mình. Bên cạnh đó, xin thí điểm thử nghiệm trên diện nhỏ, rồi mở rộng dần. Trong trường hợp này, nếu có thất bại, thiệt hại cũng không lớn, địa phương, doanh nghiệp có thể chia sẻ được.

"Ví dụ, doanh nghiệp xuất khẩu 6 tấn thì chỉ thử nghiệm trên 1-2 tấn trong kho lạnh. Trong vòng 1-2 tháng quả vải vẫn tươi nguyên nghĩa là công nghệ thành công, ngược lại có thất bại thiệt hại cũng không nhiều", vị chuyên gia đề xuất.

PGS.TS Dương Văn Chín nói thêm, với những doanh nghiệp xuất khẩu lớn, làm ăn đàng hoàng luôn mong muốn xâm nhập được vào thị trường các nước phát triển trên thế giới. Để làm được điều này, bắt buộc phải có công nghệ chế biến, bảo quản khoa học, tiết kiệm, bảo đảm các tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm theo yêu cầu của mỗi nước. Vì thế, nhiều doanh nghiệp sẵn sàng bỏ tiền để nghiên cứu, thử nghiệm và ứng dụng công nghệ mới có khả năng mang lại hiệu quả, lợi nhuận cho doanh nghiệp.

Lấy ví dụ từ Tập đoàn Lộc Trời, vị chuyên gia cho biết doanh nghiệp này thường xuyên tổ chức các buổi cafe online với các nhà khoa học trong nước, thông qua các buổi tọa đàm này, doanh nghiệp sẽ được lắng nghe những sáng kiến, nghiên cứu, công nghệ mới của các nhà khoa học.

Với những công nghệ đã được nghiên cứu và thử nghiệm chín muồi doanh nghiệp sẽ làm việc trực tiếp với các nhà khoa học để đi đến đàm phán các bước chuyển giao nếu có nhu cầu.

"Ở Tập đoàn Lộc Trời, còn có bước tính rất xa đó là ký kết thẳng hợp đồng với đơn vị nghiên cứu, đưa ra mốc thời gian trong khoảng từ 3-5 năm, phải nghiên cứu ra một giống lúa mới ưu việt hơn các loại lúa đang có.

Trong 5 năm nghiên cứu, doanh nghiệp sẽ chi ra khoảng 5 tỷ để thực hiện công việc nghiên cứu. Sau 5 năm, các nhà khoa học phải cam kết đưa ra một loại giống lúa theo đúng yêu cầu của doanh nghiệp, còn doanh nghiệp sẽ trả phí cho sản phẩm công nghệ đó.

Tức là khi các sản phẩm của các nhà khoa học đã được nghiên cứu chín muồi, cùng với kinh nghiệm và uy tín trên thực tế thì không khó để có thể thu hút được doanh nghiệp đầu tư kinh phí phục vụ quá trình nghiên cứu, thử nghiệm công nghệ mới", PGS Dương Văn Chín cho hay.

Lam Lam

Thứ Bảy, 14/08/2021 07:39

Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện