Đại tướng Võ Nguyên Giáp với Đồng bằng sông Cửu Long

(Diễn đàn trí thức) - Đồng bằng sông Cửu Long sẽ mãi mãi biết ơn Anh. Riêng đối với tôi, Anh là một người thầy, một nhân cách đặc biệt...

Dưới đây là toàn văn bài viết của GS-TSKH Nguyễn Ngọc Trân:

ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP VỚI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

                                                                                 Nguyễn Ngọc Trân [1]

Nhân ngày sinh lần thứ 110 của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ôn lại một số kỷ niệm về Anh với đồng bằng sông Cửu Long vừa là lời tri ân thành kính vừa nhắc lại những bài học sâu sắc từ một vị tướng, một nhà khoa học mà tầm nhìn bao quát không gian và vượt thời gian.

Dai tuong Vo Nguyen Giap voi Dong bang song Cuu Long

Ra Hà Nội tháng 7/1980 nhận nhiệm vụ mới tại Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước (UBKHKTNN), không lâu sau tôi được dịp gặp Đại tướng (sau đây xin được gọi là Anh hay Anh Văn) thường hơn với tư cách thành viên của nhóm biên soạn dự thảo Nghị quyết của Bộ Chính trị về Chính sách khoa học kỹ thuật dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Anh. Nghị quyết được ban hành năm 1981.

Triển khai Nghị quyết, Anh chỉ đạo UBKHKTNN xây dựng một hệ thống Chương trình khoa học cấp nhà nước nhằm tạo cơ sở khoa học cho việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

Đối với đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), Anh chỉ thị UBKHKTNN tiến hành một hội nghị khoa học về đồng bằng, chuẩn bị một báo cáo đầy đủ nhất có thể, sâu, sát với thực tế và hướng tới hành động. Hội nghị mời các ngành, các địa phương và các nhà khoa học, các chuyên gia từ các nguồn đào tạo, với mục đích đánh giá thực trạng yêu cầu của đồng bằng và đáp ứng của khoa học kỹ thuật, lắng nghe ý kiến và đề xuất từ Hội nghị. Tôi được đồng chí Lê Khắc, Chủ nhiệm Ủy ban phân công biên soạn báo cáo của UBKHKTNN. Hội nghị được tiến hành từ ngày 28 đến ngày 30/9/1981 [2] dưới sự chủ trì của Anh.

Từ hội nghị này đã hình thành Chương trình khoa học cấp nhà nước “Điều tra cơ bản tổng hợp đồng bằng sông Cửu Long”, một trong hệ thống các chương trình khoa học nhà nước mà Anh ký quyết định thành lập vào giữa năm 1983. Tôi được Anh cử làm Chủ nhiệm Chương trình.

Từ hình thành cho đến quá trình triển khai Chương trình đều có dấu ấn của Anh. Như tôi đã có dịp nói, may mắn của Chương trình và của bản thân tôi là Chương trình nhận được sự chỉ đạo sát sao của Anh, đồng thời nhận được “đặt hàng” từ đồng chí Võ Văn Kiệt, khi đó là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, những nội dung mà phát triển kinh tế xã hội cần cơ sở khoa học.

Tháng 3/1986, Chương trình họp với lãnh đạo 9 tỉnh ĐBSCL tại Cần Thơ để chuẩn bị việc nghiệm thu cấp nhà nước vào tháng 6/1986. Chương trình đã nhận được điện của Anh Văn dưới đây.

Văn phòng HĐBT điện anh Nguyễn Ngọc Trân, Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước (Chủ nhiệm Chương trình 60.02), số 1302V10 ngày 27.3.1986 (nhờ anh Hai Dũng, Cục Quản trị 2 chuyển gấp).

Thân gửi hội nghị tổng kết của Chương trình 60.02 với 9 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (Cần Thơ).

Tôi dự định vào dự hội nghị song vì bận không đi được. Xin gửi Ban chủ nhiệm Chương trình, đại diện các tỉnh và toàn thể cán bộ KHKT tham dự hội nghị lời chào thân ái và thăm hỏi ân cần.

Sau các hội nghị về phát triển kinh tế ứng dụng tiến bộ KHKT ở đồng bằng sông Cửu Long, kế thừa kết quả Chương trình điều tra cơ bản đợt 1 và những công trình tiến hành từ trước, Chương trình 60.02 đã làm được nhiều việc, làm rõ hơn các đặc điểm của vùng. Được báo cáo sơ bộ về hội nghị vừa qua của Ban chủ nhiệm Chương trình tôi có mấy ý kiến sơ bộ sau đây:

1/ Hai năm qua các đồng chí đã tập họp được một lực lượng KHKT đông đảo, xác định rõ hơn một bước, mục tiêu nhiệm vụ và phương pháp điều tra tổng hợp, thu được một số kết quả có thể ứng dụng vào sản xuất. Rất hoan nghinh cố gắng của các đồng chí.

2/ Chương trình đã có quan hệ tốt với các tỉnh, phục vụ các tỉnh, được các tỉnh hỗ trợ tích cực.

3/ Vì thời gian nghiên cứu còn ngắn, cần thận trọng khi kết luận một số vấn đề có tính qui luật. Khi chưa nắm thật rõ được thực trạng của các yếu tố tự nhiên và xã hội, chưa nghiên cứu được sâu các qui luật khách quan bên trong của sự vật thì những kết luận trước mắt có thể đưa đến những kết quả có lợi nhưng về lâu dài thì cần phải có thực tiển chứng minh. Cần xem xét thêm vấn đề nước mặn nước ngầm, vấn đề môi trường sinh thái đa dạng phức tạp của vùng, chú trọng diễn biến của từng yếu tố cũng như của tình hình chung trong thời gian và không gian.

4/ Để Chủ tịch HĐBT có căn cứ ra quyết định tiếp tục triển khai chương trình, các đồng chí cần hoàn chỉnh báo cáo và gửi lên Ủy ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước chú trọng đề xuất mục tiêu cụ thể trong thời gian tới.

a/ Cần tiếp tục điều tra từng yếu tố tự nhiên và kinh tế xã hội ở các tiểu vùng.

b/ Làm rõ thực trạng của từng yếu tố, mối liên quan, biện chứng giữa các yếu tố. Cần đứng trên quan điểm tổng hợp đánh giá tiềm năng, hướng đi lên và các diễn biến có thể có của các vùng đồng bằng rộng lớn, của từng tiểu vùng sinh thái, từng tỉnh, từng huyện. Xác định rõ vị trí của đồng bằng sông Cửu Long đối với Nam bộ, cả nước, chú trọng mối quan hệ với nước bạn láng giềng.

c/ Từ kết quả điều tra cơ bản đi đến các phương án phân vùng quy hoạch sắp tới nên tiến hành thí điểm việc xây dựng phương án kinh tế kỹ thuật ở một vài tiểu vùng sinh thái hoặc một vài địa phương.

d/ Mục tiêu của chương trình sắp tới cần xác định rõ là phải phục vụ sự phát triển nông nghiệp toàn diện của đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời đề xuất căn cứ cho những phương án có thể lựa chọn về công nghiệp hóa vùng quan trọng này của nước ta.

e/ Có kế hoạch bồi dưỡng cán bộ quản lý, cán bộ khoa học chuyên sâu về từng ngành hoặc nắm vững các đặc điểm của từng tiểu vùng, hết sức chú trọng đào tạo cán bộ cho các địa phương.

Chúc các đồng chí khỏe mạnh. Chúc hội nghị thành công tốt đẹp.

                                                                                                    Văn

Chương trình Điều tra cơ bản tổng hợp đồng bằng sông Cửu Long, giai đoạn 1983-1986 được nghiệm thu, và được tiếp tục trong giai đoạn 1986-1990, với mã số 60-B. Tôi tiếp tục được giao nhiệm vụ Chủ nhiệm Chương trình 60-B.

Năm 1986 đất nước chuyển mình thực hiện đường lối Đổi Mới. Đây là cơ hội để Chương trình đóng góp từ góc độ của mình vào công cuộc lớn lao này của đất nước.

Chương trình tiếp tục triển khai công việc, một mặt theo hướng đi sâu vào tửng yếu tố của môi trường tự nhiên, địa chất, thổ nhưỡng, thủy văn, khí hậu, sinh vật, rồi đi vào tổng hợp, bước một địa mạo – thổ nhưỡng, tài nguyên đất – nước, tài nguyên sinh khí hậu, bước hai môi trường vật lý, các tiểu vùng sinh thái với các hệ sinh thái đặc trưng của đồng bằng. Tổng hợp không phải là chồng xếp các bản đồ mà làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa các yếu tố. Bước tổng hợp tiếp theo là mức độ thích nghi của từng tiểu vùng, từng tỉnh đối với các loại cây trồng, vật nuôi, để trên cơ sở đó, đối chiếu với điều kiên kinh tế xã hội, lãnh đạo các tỉnh, các tiểu vùng và Trung ương quyết định cho quy hoạch.

Con người là một thành tố của sinh vật quyển và vì vậy của môi trường nhưng đặc biệt ở khả năng cải tạo. Tác động của con người lên môi trường sẽ tích cực nếu đúng quy luật, nhưng tiêu cực trong trường hợp ngược lại. Vì vậy vấn đề kinh tế, xã hội có vị trí quan trọng trong CT 60-B.

Anh Văn rất quan tâm đến cách tiếp cận này của Chương trình và thực tế cải tạo ở đồng bằng. “Nhắn tin triệu tập” dưới đây là một thể hiện mối quan tâm đó.  

Dai tuong Vo Nguyen Giap voi Dong bang song Cuu Long

Anh Văn luôn lắng nghe và dặn tôi là Chương trình phải nhớ rằng “ĐBSCL là một vùng đất đầy tiềm năng nhưng là một châu thổ trẻ, rất mẫn cảm với mọi tác động lên nó. Cần phải theo dõi đồng bằng một cách khách quan và khoa học. Chương trình cần xem xét cơ sở khoa học của các quyết định khai thác ĐBSCL”.

Với tầm nhìn chiến lược của Anh, tôi hiểu rằng các tác động lên đồng bằng là các tác động tại chỗ từ xa, từ thượng nguồn từ biển, cần được tiếp cận theo quan điểm hệ thống động. Có nghĩa là hậu quả của các tác động cần được đánh giá toàn diện (tự nhiên, kinh tế, xã hội), trong không gian theo thời gian.

Anh nhắc “từ nguồn” khi mà các đập thủy điện trên sông Mekong – Lan Thương chưa là hiện thực; “từ biển” khi mà biến đổi khí hậu nước biển dâng hãy còn là một viễn cảnh đang được báo động. “Từ biển” còn là vấn đề nước mặn nước ngầm mà Anh cảnh báo trong công điện tháng 3/1986, hiện nay đang kéo theo xâm thực và sụt lún của đồng bằng.

Năm 1990 đi dần về cuối thì thời điểm nghiệm thu xích lại ngày càng gần. Một ngày tháng 8, tôi xin gặp Anh đề báo cáo và trình bày tại sao Ban Chủ nhiệm Chương trình đề tựa Báo cáo tổng hợp của Chương trình là “Đồng bằng sông Cửu Long, Tài nguyên – Môi trường – Phát triển” và xin ý kiến của Anh.

Dai tuong Vo Nguyen Giap voi Dong bang song Cuu Long

Anh Văn chăm chú nghe và sau cùng nhận xét: Bộ ba “Tài nguyên, Môi trường, Phát triển” không có trong đề cương của Chương trình 60-B, tại sao Ban Chủ nhiệm Chương trình lại đề tựa như vậy.

Tôi đáp: “Thưa Anh, một mặt chính từ công điện của Anh tháng 3/1986 (tôi nhắc lại các điểm 4c và 4d), mặt khác chúng tôi muốn cái kết của 60-B là một cái kết mở: Để ĐBSCL phát triển bền vững, phải khai thác tài nguyên đúng quy luật và không hủy hoại môi trường [3]. Tôi cảm nhận trong ánh mắt Anh nhìn tôi một cái gì trìu mến của người thầy nhìn thấy học trò mình trưởng thành.

Vì tuổi cao, Anh thôi đảm nhiệm các chức vụ trong Đảng và Chính phủ. Anh vẫn theo dõi công việc của tôi và qua những câu hỏi của Anh trong những lần tôi đến thăm, tôi biết đồng bằng sông Cửu Long vẫn trong tim Anh. Có lần Anh nói với tôi như một lời tâm sự: “Điều mình lo nhất đối với phát triển của ĐBSCL là trình độ dân trí. Phải vực dậy và thoát ra vùng trũng. Nhất quyết phải như vậy”.

Dai tuong Vo Nguyen Giap voi Dong bang song Cuu Long

Cuối khóa XI của Quốc hội, tôi nhận được quyết định về hưu theo chế độ. Ngày 15/9/2007 tôi đến thăm và giã từ Anh trước khi trở về miền Nam. Anh nói “Tiếc quá!”, nhìn tôi và hỏi: “Thế Trân định làm gì?”. Tôi đáp tôi sẽ trở về với khoa học công nghệ, với đồng bằng sông Cửu Long, tiếp tục những gì chưa làm được và theo dõi những thách thức mà đất nước, ĐBSCL nói riêng đang và sẽ đương đầu. Anh bắt tay tôi và nói “Như vậy là tốt!”.

Đồng bằng sông Cửu Long sẽ mãi mãi biết ơn Anh. Riêng đối với tôi, Anh là một người thầy, một nhân cách đặc biệt mà sự kính trọng của tôi dày theo những trải nghiệm thực tế./.

CHÚ THÍCH:

[1]: - Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban khoa học kỹ thuật Nhà nước (1980-1992), Chủ nhiệm Chương trình khoa học nhà nước Điều tra cơ bản tổng hợp đồng bằng sông Cửu Long (1983-1990), nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc Hội (1997-2007), Đại biểu Quốc hội các khóa IX, X, XI (1992-2007).

[2]: -  Tóm tắt các báo cáo và phát biểu tổng kết Hội nghị của Đại tướng trong Tạp chí Hoạt động Khoa học (Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, số 11 và 12 năm 1981.

[3]: - Khái niệm “Phát triển bền vững” chính thức ra đời tại Hội nghị Thượng đỉnh Rio de Janeiro tháng 6/1992.

Thứ Tư, 25/08/2021 07:25

Đọc nhiều nhất
Sự Kiện