Với ý nghĩa học thuật và ý nghĩa thực tế, bài viết đóng góp vào hiểu biết sự tương tác sông-biển tai các cửa sông ven Biển Đông." /> Với ý nghĩa học thuật và ý nghĩa thực tế, bài viết đóng góp vào hiểu biết sự tương tác sông-biển tai các cửa sông ven Biển Đông." /> Với ý nghĩa học thuật và ý nghĩa thực tế, bài viết đóng góp vào hiểu biết sự tương tác sông-biển tai các cửa sông ven Biển Đông." />

Biến động mực nước tại các cửa sông ven Biển Đông (1988-2020)

(Diễn đàn trí thức) -  Với ý nghĩa học thuật và ý nghĩa thực tế, bài viết đóng góp vào hiểu biết sự tương tác sông-biển tai các cửa sông ven Biển Đông.

Dưới đây là toàn văn bài viết của GS-TSKH Nguyễn Ngọc Trân:

BIẾN ĐỘNG MỰC NƯỚC TẠI CÁC CỬA SÔNG VEN BIỂN ĐÔNG (1988 – 2020) 

                                                                       Nguyễn Ngọc Trân [1]

 Tóm tắt

Như mọi châu thổ sông, ĐBSCL là địa bàn của sự tương tác sông - biển. Vùng cửa sông là giao diện của sự tương tác này. Tại hội nghị khoa học ICEC 2018 tại Caen (Pháp), tác giả đã có bài tham luận về biến động của các mực nước đặc trưng tại 9 trạm thủy văn ven biển ở đồng bằng sông Cửu Long từ năm 1988 đến năm 2016.

Nay đã có thêm bốn năm số liệu từ 2017 đến 2020. Bài viết này cập nhật các kết luận và đi sâu vào các vấn đề đã được nêu lên, đặc biệt làm rõ xu hướng biến động trong những năm gần đây tại năm trạm thủy văn ven Biển Đông ở đồng bằng sông Cửu Long, đóng góp vào hiểu biết về sự tương tác sông-biển tại địa bàn.

Mở đầu

Chúng ta đều biết đồng bằng sông Cửu Long đang đối diện với hai thách thức lớn từ bên ngoài: biến đổi khí hậu toàn cầu, nước biển dâng và nguồn nước từ thượng nguồn chảy về.

Như mọi châu thổ sông, ĐBSCL là địa bàn của sự tương tác sông - biển. Vùng cửa sông là giao diện của sự tương tác này. Số liệu mực nước đo đạc tại vùng cửa sông là nguồn thông tin cơ bản để nhận biết về mối tương tác này.

Hiện nay các nhánh sông Tiền và sông Hậu đổ ra Biển Đông tại cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên, cửa Cung Hầu, cửa Định An và cửa Trần Đề. Bồi lắng tự nhiên đã lấp mất cửa Bassac trong khi một đập ngăn mặn được xây dựng vào đầu thập niên 2000 đã bịt cửa Ba Lai.

Trổ ra Biển Đông, phía Nam sông Hậu, có sông Mỹ Thanh, sông Gành Hào và sông Cửa Lớn – sông Bồ Đề, một đường thủy nối liền Biển Đông với Biển Tây.

Trổ ra Biển Tây có các sông chính là sông Cửa Lớn, sông Bảy Háp, sông Ông Đốc, sông Cái Lớn, sông Cái Bé, và Kênh Cái Sắn lấy nguồn từ sông Hậu.

Trên địa bàn tỉnh Cà Mau còn có 27 kênh rạch các cỡ trổ ra Biển Tây. Các kênh rạch quan trọng đều có cống ngăn mặn. Trên địa bàn hai huyện An Minh và An Biên có 10 kênh rạch trổ ra Biễn Tây trên một vùng bãi bồi chạy dọc ven bờ.

Ở đồng bằng sông Cửu Long có 9 trạm thủy văn ven biển. Liệt kê theo chiều kim đồng hồ, đó là các trạm Vàm Kênh, Bình Đại, An Thuận, Bến Trại, Mỹ Thanh, Gành Hào, Sông Đốc, Xẽo Rô và Rach Giá. Trạm Năm Căn trên sông Cửa Lớn nối Biển Đông và Biển Tây được xem là trạm ven biển. Vị trí, tọa độ các trạm trong Hình 1. 

Bien dong muc nuoc tai cac cua song ven Bien Dong (1988-2020)
Hình 1. Vị trí các trạm thủy văn ven biển ở đồng bằng sông Cửu Long

Số liệu gốc mà các trạm thủy văn đo đạc là mực nước giờ. Trạm Vàm Kênh, một trong 5 trạm thủy văn ở đồng bằng sông Cửu Long, trạm duy nhất ven biển, được Ủy hội sông Mekong trang bị máy đo tự động, số liệu được truyền trực tiếp về đài của tỉnh và về Đài khu vực Nam Bộ.

Năm 2018, trong tham luận Biến động mực nước tại các trạm thủy văn ven biển đồng bằng sông Cửu Long năm 2018 [2], tác giả trình bày diễn thế của mực nước trung bình năm, đỉnh triều cao nhất năm, chân triều thấp nhất năm biên độ triều cao nhất năm tại chín trạm thủy văn ven biển ở đồng bằng sông Cửu Long; chỉ ra ý nghĩa thực tế của những biến động này, đồng thời nêu lên những vấn đề cần tiếp tục theo dõi.

Đến nay đã có thêm số liệu các năm 2017, 2018, 2019 và 2020. Bốn năm số liệu bổ sung cho chuỗi 29 năm là rất quý ở thời buổi biến đổi khí hậu nước biển dâng và nguồn nước sông Mekong chảy về hạ lưu vực ngày càng bất định trong xu hướng giảm [3] [4], và sự phân bổ vào các nhánh sông Tiền và sông Hậu có nhiều thay đổi [5].

Bài viết cập nhật các biến động và đi sâu vào các vấn đề đã được nêu lên bằng phân tích không-thời gian và tổng thể-lĩnh vực chuỗi số liệu tại 5 trạm nhằm đóng góp vào hiểu biết về các mực nước đặc trưng và dự báo mối tương tác sông-biển tại địa bàn.

Từ mực nước giờ sẽ tính toán các mực nước đặc trưng (MNĐT) là mực nước trung bình năm, đỉnh triều cao nhất năm, chân triều thấp nhất năm và biên dộ triều lớn nhất năm.

Xem xét tổng thể từng mực nước đặc trưng trên cả 5 trạm thủy văn trong toàn thời gian 33 năm sẽ được tiến hành truóc tiên. Khảo sát này chỉ ra những biến động cần quan tâm của từng mực nước đặc trưng tại các trạm, vào những thời điểm nào.

Bước tiếp theo, phân tích các mực nước đặc trưng trên từng địa bàn để làm rõ biến động của từng mực nước tại mỗi trạm trong 33 năm và trong thời gian gần đây.

Kết quả và nhận xét

(1) Biến động của các mực nước trong 33 năm tại 5 trạm

Mực nước trung bình năm

Đồ thị mực nước trung bình năm (ký hiệu Htb) tại 5 trạm Vàm Kênh (Cửa Tiểu), Bình Đại (Cửa Đại), An Thuận (Cửa Hàm Luông), Bến Trại (Cửa Cổ Chiên) và Gành Hào (sông Gành Hào) được thể hiện trong Hình 2.  

Bien dong muc nuoc tai cac cua song ven Bien Dong (1988-2020)

+ Trong chuỗi số liệu 33 năm, Htb cao nhất tại trạm Vàm Kênh là 6.02 cm (đạt năm 2020), tại Bình Đại là 20,8 cm (2017), tại An Thuận là 15,8 cm (2017), tại Bến Trại là 20,8 cm (2020), tại Gành Hào là 46.5 cm (2020).

+ Tại Vàm Kênh trong 33 năm, Htb cao nhất có trị số thấp nhất trong 5 trạm, và chỉ có 10 năm là Htb > 0, trong đó có 4 năm gần đây nhất.

Đỉnh triều cao nhất năm

Trong Hình 3 là đồ thị đỉnh triều cao nhất năm (ký hiệu HHW) tại 5 trạm trong 33 năm.  

Bien dong muc nuoc tai cac cua song ven Bien Dong (1988-2020)

+ Trong chuỗi 33 năm số liệu, đỉnh triều cao nhất năm HHW cao nhất tại 5 trạm là Vàm Kênh 179, Bình Đại 193, An Thuận 190, Bến Trại 198, Gành Hào 250 cm. Tất cả đều đạt vào năm 2020, đồng nghĩa với các trị số này còn có thể cao hơn sắp tới.

+ Cho đến năm 2004, biên độ của sự biến động là khá lớn, đặc biệt tại trạm Vàm Kênh và trạm Bến Trại

Chân triều thấp nhất năm

Đường chân triều thấp nhất năm (ký hiệu LLW) tại 5 trạm trong 33 năm được thể hiện trong Hình 4.  

Bien dong muc nuoc tai cac cua song ven Bien Dong (1988-2020)

+ Trong chuỗi 33 năm số liệu, LLW thấp nhất tại 5 trạm lần lượt là: Vàm Kênh -268 cm (1988), Bình Đại -246 cm (1991), An Thuận -238 cm (1991), Bến Trại -257 cm (1991), Gành Hào -245 cm (2001).

Các LLW thấp nhất đạt được không cùng năm, với xu hướng xảy đến chậm hơn dọc theo bờ biển: năm 1988 tại Vàm Kênh, năm 1991 tại Bình Đại, An Thuận, Bến Trại, và năm 2001 tại Gành Hào.

Biên độ triều lớn nhất năm

Biến động của biên độ triều lớn nhất năm (ký hiệu RoT) tại 5 trạm trong 33 năm (1988-2020) được thể hiện trong Hình 5.  

Bien dong muc nuoc tai cac cua song ven Bien Dong (1988-2020)

+ Trong chuỗi số liệu 33 năm, biên độ triều lớn nhất năm lớn nhất tại 5 trạm là Vàm Kênh 369 cm (2012), Bình Đại 360 cm (2020), An Thuận 363 cm (2008), Bến Trại 378 cm (2004), Gành Hào 408 cm (2020).

+ Đồ thị của RoT tại 5 trạm vừa “răng cưa” vừa trồi sụt, hơn cả đồ thị của LLW. Xu hướng biến động không rõ tại trạm Bến Trại (phương trình xu hướng tuyến tính là y = 0.0418x + 272.09; R2 = 0.0019 ).

Xu hướng biến động của các mực nước dặc trưng trong 33 năm

Từ các chuỗi số liệu, xu hướng tuyến tính của các mực nước đặc trưng tại các trạm, tất cả là 20, được tính toán. Tất cả đều là xu hướng tăng trưởng dương. Hệ số góc và hệ số R2 của từng xu hướng được trình bày trong Bảng 1.

Bien dong muc nuoc tai cac cua song ven Bien Dong (1988-2020)
Bảng 1

Đọc Bảng 1 theo cột sẽ thấy xu hướng biến động tuyến tính của bốn MNĐT tại trạm. Đọc theo dòng sẽ biết xu hướng biến động của một MNĐT tại 5 trạm.

Khoảng cách các điểm đo phân bố hai bên đường xu hướng tuyến tính càng rộng (răng cưa) hệ số R2 càng thấp. Trong Bảng 1 có 6/20 hệ số R2 < 0.5, tập trung vào LLW tại Vàm Kênh, Bình Đại, An Thuận, và vào RoT tại Vàm Kênh, Bến Trại và Gành Hào. Htb có hệ số R2 > 0.8 tại cả 5 trạm. HHW cũng vậy nhưng chỉ > 0.7 và trên 0.5 tại Vàm Kênh và Bến Trại.

(2) Biến động của các mực nước tại các trạm.

Bốn mực nước đặc trưng tại 5 trạm Vàm Kênh, Bình Đại, An Thuận, Bến Trại, Gành Hào được lần lượt trình bày trong các Hình 6, 7, 8, 9, 10.

Bien dong muc nuoc tai cac cua song ven Bien Dong (1988-2020)
Bien dong muc nuoc tai cac cua song ven Bien Dong (1988-2020)
Bien dong muc nuoc tai cac cua song ven Bien Dong (1988-2020)
Bien dong muc nuoc tai cac cua song ven Bien Dong (1988-2020)
Bien dong muc nuoc tai cac cua song ven Bien Dong (1988-2020)

Các Hình từ 6 đến 10 cho thấy, tuy 20 xu hướng đều là tăng trưởng dương trong 33 năm, nhưng có những thời đoạn mà đồ thị cho thấy tốc độ tăng trưởng nhanh hơn hoặc chậm hơn, thậm chí còn tăng trưởng âm. Điều này được thể hiện trong một số đoạn được khoanh trong các Hình. Vòng khoanh màu tím là thời đoạn có xu hướng tăng trưởng dương, màu đỏ tăng trưởng âm, màu xanh biểu thị biến động mạnh, xu hướng không rõ ràng.

(3) Xu hướng biến động trong thời gian gần đây

Tìm ra những thời đoạn trong 33 năm trong đó xu hướng phản ánh sát biến động của các mực nước đặc trưng là điều cần làm và đã được tiến hành.

Các thời đoạn được tính từ năm 2020 trở về trước để thấy xu hướng tới năm 2020, và phục vụ ngoại suy xu hướng trong những năm trước mắt.

Vì các mực nước đặc trưng không biệt lập với nhau (cùng xuất phát từ mực nước giờ), tiêu chí chọn thời đoạn tốt nhất là có cả 4 hệ số R2 ≥ 0.5. Mặt khác thời đoạn phải có độ dài ít nhất 10 năm.

9 thời đoạn mà năm bắt đầu từ 2002 đến 2010 đã được khảo sát. Không có thời đoạn nào thỏa cả hai tiêu chí.

Thời đoạn 2004-2020 được lựa chọn vì đạt độ dài 17 năm và tiêu chí R2 ≥ 0.5 được thỏa “khá tốt” (15/20). Ngoài ra vẫn giữ lại thời đoạn 11 năm (2010-2020) để làm rõ xu hướng biến động trong 10 năm gần đây và ngoại suy cho các năm sắp tới, 

Bien dong muc nuoc tai cac cua song ven Bien Dong (1988-2020)

Biến động trong ba thời đoạn (1988-2020), (2004-2020) và (2010-2020) được trình bày trong Bảng 2 trong đó Δ là hệ số góc của đường xu hướng tuyến tính trong từng thời đoạn.

Thảo luận

Trong phần trên đây đã có các nhân xét về từng mực nước đặc trưng dựa trên kết quả khảo sát số liệu. Trong phần này xin nhấn mạnh những điểm đáng chú ý có tính tổng hợp, nổi bật, và nêu lên 7 nội dung để thảo luận.

(1) Cho tới năm 2020, các mực nước đặc trưng đã đạt đỉnh hay đáy chưa? Câu hỏi không chỉ đặt ra về mặt học thuật mà còn có ý nghĩa thực tế như sẽ thấy dưới đây.

+ Mực nước trung bình năm cao nhất trong 33 năm tại Bình Đại, An Thuận đạt vào năm 2017. Ở ba trạm còn lại vào năm 2020. Liệu Htb cao nhất tại Bình Đại, An Thuận đã đạt đỉnh? Đỉnh của Htb cao nhất tại ba trạm còn lại còn ở phía trước.

+ Đỉnh triều cao nhất năm cao nhất trong 33 năm tại 5 trạm đều đạt trong năm 2020. Điều này có nghĩa là các trị số này còn có thể cao hơn trong các năm sắp tới.

+ Chân triều thấp nhất năm thấp nhất trong 33 năm tại 5 trạm đạt vào các năm: Vàm Kênh (1988), Bình Đại (1991), An Thuận (1991), Bến Trại (1991), Gành Hào (2001). Phải chăng chân triều thấp nhất năm thấp nhất đã chạm đáy tại 5 trạm, đồng nghĩa với chân triều thấp nhất năm thấp nhất sắp tới sẽ cao hơn trị số đáy hiện hữu?

+ Dựa trên số liệu, phải chăng biên độ triều lớn nhất năm tại Vàm Kênh, An Thuận, Bến Trại đã đạt đỉnh, còn tại Bình Đại và Gành Hào còn có thể tăng?

(2) Khác biệt giữa các trạm qua các mực nước đặc trưng

Diễn biến của 4 mực nước trong 33 năm được xem xét qua 7 lát cắt cách nhau 5 năm 1990, 1995, 2000, 2005, 2010, 2015, 2020. Hình 11.

Bien dong muc nuoc tai cac cua song ven Bien Dong (1988-2020)

Hình 11 dẫn đến các nhận xét sau:

+ Sự khác biệt của các MNĐT tại trạm Gành Hào so với 4 trạm còn lại về trị số (HHW, Htb, RoT) và về diễn thế (LLW).

+ Tuy cùng là cửa các nhánh sông Tiền trổ ra Biển Đông, diễn thế của các MNĐT tại 4 cửa sông[TNN1]  Vàm Kênh, Bình Đại, An Thuận, Bến Trại cũng có những khác biệt nhau khá rõ.

Trị số các MNĐT tại trạm Vàm Kênh thấp nhất trừ RoT. Sự tăng trưởng của các MNĐT tại trạm Bình Đại khá đều, khác với 3 trạm khác; chân triều thấp nhất năm cao hơn trong khi biên độ triều lớn nhất năm bé hơn tại ba trạm còn lại. Trị số của giữa các MNĐT tại Bến Trại thuộc loại cao nhất trừ chân triều thấp nhất năm.

+ Năm 2005, chân triều thấp nhất năm giảm ở tất cả 5 trạm.

(3) Đỉnh triều cao nhất năm và chân triều thấp nhất năm xuất hiện như thế nào?

Với thêm số liệu 4 năm 2017-2020, các Bảng thời điểm (tháng) và số lần đỉnh triều cao nhất năm, chân triều thấp nhất năm xuất hiện cho 33 năm được cập nhật trong Bảng 3

Bien dong muc nuoc tai cac cua song ven Bien Dong (1988-2020)
Bảng 3. Tháng và số lần đỉnh triều cao nhất năm (trái) và chân triều thấp nhất năm (phải) xuất hiện trong 33 năm (1988 – 2020)

+ Đỉnh triều cao nhất năm xuất hiện tập trung vào các tháng 10, 11 12. Số lần xuất hiện trong cùng một tháng trong năm nhiều nhất là ở Gành Hào (9 lấn trong 33 năm), tiêp đó là An Thuận (8 lần), Vàm Kênh và Bến Trại (4 lần).

+ Chân triều thấp nhất năm xuất hiện tập trung vào các tháng 6, 7, 8. Số lần xuất hiện trong cùng một tháng trong năm nhiều nhất là ở Gành Hào (8 lấn trong 33 năm), tiêp đó là Bến Trại (5 lần), An Thuận (2 lần), Vàm Kênh và Bình Đại (1 lần).

(4) Cần có thêm ít nhất hai trạm thủy văn ven biển giữa Bến Trại và Gành Hào.

Nếu lấy Vũng Tàu là km0 thì trạm Vàm Kênh ở km42, Bình Đại km55, An Thuận km83, Bến Trại km111, Gành Hào km271 dọc theo bờ Biển Dông. Khoảng cách từ Bến Trại đến Gành Hào là 160 km, xa hơn từ Bến Trại đến Vàm Kênh.

Trước đây có trạm Mỹ Thanh nhưng trạm đã ngưng hoạt động sau năm 2008. Vì lợi ích khoa học và kinh tế, xã hội, cần đặt thêm ít nhất hai trạm thủy văn ven biển tại ba cửa Cung Hầu (nhánh Cổ Chiên, sông Tiền), Định An (nhánh Định An, sông Hậu), và Trần Đề (nhánh Trần Đề, sông Hậu).

(5) Trong 33 năm qua, trong sự tương tác sông-biển, quá trình biển nổi trội, thể hiện ở Bảng 2 các cột 88-20 của Htb, HHW, LLW và RoT,

(5a) và càng nổi trội trong 17 năm (2004-2020) đối với Htb tại An Thuận, Bến Trại, Gành Hào; đối với HHW tại Vàm Kênh, Bến Trại, Gành Hào; đối với LLW tại Vàm Kênh, An Thuận, Bến Trại, Gành Hào. Nhưng đối với RoT tăng trưởng là âm tại 4 trên 5 trạm.

(5b) Trong 11 năm gần đây (2010-2020) xu hướng nổi trội tiếp tục khẳng định đối với HHW tại Vàm Kênh, Bến Trại và Gành Hào. Trong 11 năm này biến động của Htb mạnh và có phần chậm lại. LLW và RoT cũng biến động mạnh. LLW tăng trưởng âm tại Bình Đại, An Thuận. RoT tăng trưởng âm tại Vàm Kênh, An Thuận và Bến Trại

(6) Ý nghĩa thực tế của những biến động. Chúng ta đều biết

+ Mực nước trung bình năm (Htb) tăng, nguy cơ ngập tăng. Nếu Htb năm chưa đạt đỉnh, có nghĩa là cần theo dõi, dự báo, quan tâm nâng cao, gia cố đê chống ngập.

+ Đỉnh triều cao nhất năm tăng, lượng nước biển theo triều đổ vào đồng bằng qua cửa sông tăng.

+ Chân triều thấp nhất năm tăng, lượng nước trong đồng bằng tháo ra biển qua cửa sông sẽ khó khăn hơn, tình trạng úng ngập sẽ càng nặng nếu cùng lúc HHW tăng.

+ Biên độ triều lớn nhất năm là hiệu số {đỉnh triều – chân triều} cao nhất trong năm. Ý nghĩa thực tế của đại lượng cần được xét cùng lúc với đỉnh triều và chân triều, và thời điểm đạt dược biên độ triều lớn nhất năm. Trong lúc đỉnh triều cao nhất năm xuất hiện tập trung trong các tháng 10 – 12, chân triều thấp nhất năm xuất hiện tập trung trong các tháng 6 – 8, biên độ triều lớn nhất năm xuất hiện trong các tháng 10, 11, 12 và tháng 1 năm sau, nhiều nhất trong tháng 12 và tháng 1 (Bảng 4).  

Bien dong muc nuoc tai cac cua song ven Bien Dong (1988-2020)
Bảng 4. Tháng và số lần biên độ triều lớn nhất năm xuất hiện trong 11 năm (2010 - 2020)

Vì bốn đại lượng HHW, LLW, Htb, RoT có ý nghĩa thực tế quan trọng như vậy, nên tác giả đã kiểm chứng với các trạm của tỉnh và với Đài khu vực Nam Bộ về mặt số liệu, cũng như những thể hiện trên hiện trường.

(7) Mực nước đo đạc ở cửa sông là biểu hiện tổng hợp của tương tác sông-biển và bao gồm sự sụt lún mặt đất tại địa bàn.

+ Ngoại trừ có biến cố đột xuất, sự tương tác sông-biển tại các cửa sông là một quá trình liên tục và lặp lại. Sau mỗi năm, sự tương tác sông – biển dẫn tới một địa hình đáy mới ven biển, tại vùng cửa sông nói riêng. Trên nền đáy này, năm tiếp theo dòng chảy của sông, dòng chảy ven bờ, và dòng triều, của lắng đọng trầm tích trước và sau trạm thủy văn lại tương tác với nhau. Và cứ thế lặp lại qua các năm. 

Bien dong muc nuoc tai cac cua song ven Bien Dong (1988-2020)
Hình 11. Ảnh vệ tinh Landsat 8 vùng các cửa sông Tiền vào các tháng 2, 9, 10.

+ Mực nước đo đạc tại các trạm cửa sông ẩn chứa sự sụt lún mặt đất, tự nhiên và từ tác động của con người (trong xây dựng, trong khai thác nước ngầm, …) tại khu vực trạm thủy văn bởi lẽ mực nước giờ tại các trạm được đặt và đo tại chỗ chịu ảnh hưởng trực tiếp của sụt lún.

Tạm kết

Với ý nghĩa học thuật và ý nghĩa thực tế, khảo sát biến động mực nước trong bài viết này góp phần vào hiểu biết quá trình tương tác sông-biển tai các cửa sông ven Biển Đông, và giải thích, tiên liệu ngập úng và xâm nhập của nước biển theo triều vào đồng bằng sông Cửu Long.

Cảm ơn. Tác giả chân thành cám ơn Đài Khí tượng Thủy văn Nam Bộ và các Đài Khí tượng Thủy văn các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Bạc Liêu và Cà Mau về sự hỗ trợ số liệu quý báu cho bài viết.

 CHÚ THÍCH:

[1] :- Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban khoa học kỹ thuật Nhà nước (1980-1992), Chủ nhiệm Chương trình khoa học nhà nước Điều tra cơ bản tổng hợp đồng bằng sông Cửu Long (1983-1990), Đại biểu Quốc hội các khóa IX, X, XI (1992-2007).

[2] :- Nguyễn Ngọc Trân, 2018, Evolution of water levels at coastal hydrological stations of the Mekong delta, ICEC 2018 xuất bản trong Nguyễn N.T. (2020) Evolution of Water Levels at Coastal Hydrological Stations of the Mekong Delta. In: Nguyen K., Guillou S., Gourbesville P., Thiébot J. (eds) Estuaries and Coastal Zones in Times of Global Change. Springer Water. Springer, Singapore. https://doi.org/10.1007/978-981-15-2081-5_48. hoặc Evolution of water levels at coastal hydrological stations of the Mekong delta (vnulib.edu.vn)

[3] :- Nguyễn Ngọc Trân, 2020, Nguồn nước về ĐBSCL, những diễn biến gần đây, https://baodatviet.vn/dien-dan-tri-thuc/nguon-nuoc-ve-dbscl-nhung-dien-bien-gan-day-3401121/

[4] :- Nguyễn Ngọc Trân, 2020, Sông Mekong, đập Xayaboury và ĐBSCL ở nửa đầu mùa khô 2019-2020, https://tiasang.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/Song-Mekong-dap-Xayaboury-va-DBSCL-o-nua-dau-mua-kho-20192020-23073

[5] :- Eslami Sepehr et al, 2019, Flow Division Dynamics in the Mekong Delta: Application of a 1D‐2D Coupled Model, Water 2019, 11, 837; doi:10.3390/w11040837.

Thứ Hai, 20/09/2021 07:40

Đọc nhiều nhất
Sự Kiện