Biến động đáy sông Hậu dọc luồng Trần Đề

(Diễn đàn trí thức) - Bài viết nhằm cung cấp cơ sở cho quyết định công bố luông hàng hải Trần Đề từ phao số “0” đến phao “32”, và kết nối với luồng Định An

Dưới đây là toàn văn bài viết của GSTS Nguyễn Ngọc Trân:

BIẾN ĐỘNG ĐÁY SÔNG HẬU DỌC LUỒNG TRẦN ĐỀ

                                                                                Nguyễn Ngọc Trân [1]

Tóm tắt. Trong bài viết Luồng hàng hải Trần Đề, cần khách quan và tôn trọng quy luật [2], tác giả cho rằng việc công bố luồng hàng hải Trần Đề từ phao “0” đến phao “32” còn quá sớm trong tình hình số liệu hiện nay, cả ở đoạn biển cả ở đoạn bên trong đất liền. Cần hết sức khách quan và tôn trọng quy luật khi quyết định về luồng Trần Đề.

Bài viết này, trên cơ sở một tài liệu tiếp nhận được sau khi bài viêt được đăng tải, phân tích tiếp sự biến động của đáy sông Hậu dọc luồng hàng hải Trần Đề từ cửa sông Cồn Tròn đến chỗ kết nối với luồng Định An, tháng 11/2009 so với tháng 6/2021. Dù hạn chế về không gian chỉ giới hạn ở tuyến luồng, bài viết chỉ ra ở những vị trí nào dọc theo luồng, đáy luồng nông hơn hoặc sâu hơn với số liệu tương ứng.

Những vấn đề cần được giải đáp

Trong gần 130 năm qua, từ năm 1885 đến nay, Cù lao Dung được hình thành và phát triển từ bờ phải nhánh Định An theo hướng Tây – Tây Nam. Nhận xét này, xuất phát từ theo dõi thực tế và từ các bản đồ các thời kỳ [3] cần nhận được các lời giải đáp.

Ở đầu nhánh Trần Đề, trong 42 năm qua, từ năm 1979 đến nay, các ảnh vệ tinh Landsat cho thấy quá trình phát triển của hai Cồn Mỹ Phước, Lý Quyên và quá trình hình thành và phát triển của hai cồn tại ngã ba sông Saintard – sông Hậu. Hình 1a. 

Bien dong day song Hau doc luong Tran De

Sự hình thành và phát triển của các cồn cũng cần được giải đáp. Có mối quan hệ gì với dòng nước giàu trầm tích chảy vào nhánh Trần Đề hay không (Hình 1b)? và tại sao vào nhánh Trần Đề nhiều hơn vào nhánh Định An? Sự bồi lắng trầm tích dọc theo nhánh Trần Đề diễn ra như thế nào? Đây có phải là một nguyên nhân khiến cho Cù lao Dung phát triển trong thời gian qua về phía Tây - Tây Nam?

Không chỉ có vai trò của nước sông Hậu đổ ra biển mà còn có vai trò của triều từ Biên Đông truyền vào sông Hậu. Dòng triều khi triều lên đi đến đâu, theo lộ trình nào, và khi triều rút theo lộ trình nào khi còn ba nhánh sông Định An, Bassac và Trần Đề (Hình 1c), và hiện nay khi chỉ còn hai nhánh Định An và Trần Đề với Cù lao Dung ở giữa?

Rất nhiều vấn đề cơ bản đặt ra và cần được làm rõ trước khi công bố luồng hàng hải Trần Đề từ phao số “0” đến phao số “32” và kết nối với luồng Định An, vì sự bền vững của luồng.

Số liệu đo đạc luồng năm 2021 nhận được

Trong bài báo đã dẫn (phụ chú 2) tác giả nêu một trong những khó khăn trong việc nghiên cứu luồng hàng hải Trần Đề, đó là tình hình số liệu.

Về địa hình đáy của cả nhánh Trần Đề chỉ có bộ mặt cắt ngang đo đạc cuối năm 2009 trong khung khổ Dự án “Quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng tài nguyên cát lòng sông Hậu thuộc khu vực tỉnh Sóc Trăng đến năm 2020”.

Ngay cả số liệu của các Thông báo Hàng hải (TBHH) về độ sâu của luồng hàng hải Trần Đề cũng chỉ mới có từ 2018 đến 2021, mỗi năm được một đợt đo duy nhất cho đoạn biển, từ T0 đến T6A. Từ điểm T6A đến T15P, TBHH chỉ cung cấp hai độ sâu cho cả chiều dài 31,2 km.

Bốn ngày sau khi bài viết được đăng tải, tác giả nhận được từ Cảng vụ Cần Thơ một bộ 5 mảnh ghép luồng Trần Đề từ điểm T0 đến điểm T18AP [4]. Trong mỗi mảnh có các mặt cắt ngang luồng cùng với số liệu đo độ sâu. Thời gian đo độ sâu là hai tháng 5 và 6 năm 2021. Độ sâu, được xác định bằng máy đo sâu hồi âm tần số 200 kHz, tính đến mực nuớc “số 0 hải đồ".

Đáy luồng rộng 130 mét. Các mặt cắt rộng gấp ba lần, với tuyến tim luồng ở giữa. Mỗi mặt cắt bình quân có 15 điểm đo độ sâu phân bổ cách nhau 26 mét. Khoảng cách giữa các mặt cắt là 50 mét. Đáy luồng đoạn từ T12 đến T16P rộng 200 mét. Trong đoạn này bình quân có 18 điểm đo độ sâu, với 8 điểm bên trong luồng, cách nhau 25 mét/điểm.

So với bề ngang nhánh Trần Đề, vùng có số liệu đo độ sâu chỉ phủ nhiều nhất gần 50% nơi sông có bề ngang hẹp nhất.

Mặc dù vậy các thông tin mà tài liệu cung cấp rất bổ ích trong bối cảnh rất khan hiếm số liệu về độ sâu hiện nay của sông Hậu nhánh Trần Đề.

Hình 2a Hình 2b là trích hai đoạn mặt cắt xung quanh hai điểm tim luồng T12 và T15P. Hai hình cho thấy luồng Trần Đề đã đổi bờ, từ gần bờ phải (T12) sang áp sát bờ trái (T15P). Hình 2a còn cho thấy đáy luồng bắt đầu mở rộng từ 130 mét sang 200 mét tại điểm T12.

Hình 2b chỉ ra hai vị trí sạt lở tại xã Anh Thạnh 1, đầu Cù lao Dung,  

Bien dong day song Hau doc luong Tran De

Biến động của đường tim luồng Trần Dề từ 2009 đến 2021

Đánh giá sự biến động theo chiều đứng địa hình đáy một nhánh sông tại một điểm ở hai thời điểm là xem xét độ sâu tại điểm đó vào hai thời điểm là sâu thêm hay cạn hơn và là bao nhiêu.

Biết được sự biến động của đường tim luồng Trần Đề góp phần có ý nghĩa trong việc đánh giá tính khả thi và bền vững của luồng.

Bài viết này tìm cách đánh giá sự biến động của đường tim luồng Trần Đề từ duy nhất số liệu của các mặt cắt ngang suốt dọc nhánh Trần Đề đo đạc tháng 11/2009 (đã nói trên đây) và số liệu các mặt cắt ngang luồng Trần Đề đo đạc tháng 6/2021.

Bảng 1 cung cấp tọa độ các điểm tim T. Đoạn biển của luồng ứng với từ T0 đến T6. Luồng trong đất liền, đoạn mà chúng ta quan tâm sau đây là từ T6A đến T18AP  

Bien dong day song Hau doc luong Tran De
Hình 3 và  Bảng 1

(1)  Đường độ sâu tim luồng Trần Đề số liệu đo tháng 5-6/2021

Từ 5 mảnh ghép, độ sâu tại các điểm tim luồng T được ghi lại. Khoảng cách giữa các T được tính toán và kiểm tra với số liệu của Cảng vụ Cần Thơ.

Trong Hình 4 là đường nối độ sâu các điểm tim luồng (sau đây được gọi tắt đường tim luồng) từ T6A đến T18AP.

Cặp điểm T7, T8 cách nhau không xa, 230 mét. chênh lệch về độ sâu là 0,37 mét.  

Bien dong day song Hau doc luong Tran De

Chiều ngang của luồng cộng với mỗi bên một bề ngang như vậy cũng chỉ phủ được một băng hẹp so với bề rộng nhánh Trần Đề. Tuy nhiên biết được biến động của nó cũng mang lại những thông tin chưa từng có.

(2)  Đường độ sâu dọc theo các điểm T trên nền địa hình đáy sông năm 2009, hệ độ cao Nhà nước

Tọa độ các điểm T được định vị trên bản đồ địa hình đáy sông Hậu nhánh Trần Đề tháng 11/2009 tính theo mốc độ cao Hòn Dấu, Hình 5. Từ đó có được đường nối độ sâu các điểm T trên nền địa hình đáy này. Hình 6

Bien dong day song Hau doc luong Tran De
Bien dong day song Hau doc luong Tran De

Như vậy, chúng ta có hai tập thông tin về độ sâu, một của đường tim luồng Trần Đề tháng 6/2021 so với “0” hải đồ khu vực cửa sông Hậu, và một của đường nối các độ sâu của các vị trí T trên nền địa hình 2009, hệ độ cao nhà nước.

(3)  Quy về cùng hệ độ cao nhà nước

Chúng ta có hai đồ thị độ sâu của cùng một tập các điểm T với hai hệ độ cao khác nhau. Để có thể so sánh độ sâu của các điểm T năm 2021 so với năm 2009 cần đưa hai đồ thị trong hai Hình 4Hình 6 về cùng một hệ độ cao, hệ độ cao nhà nước.

Qua tìm hiểu được biết không có một mức độ chênh lệch chính thức. Không có điều kiện để tính toán, cách còn lại là tìm hiểu những trị số phỏng đoán nhưng có cơ sở từ các cán bộ khoa học trong lĩnh vực [5], và những trị số từ kinh nghiệm của những người am tường hoạt động trong lĩnh vực hàng hải trong khu vực từ nhiều năm.

Tác giả đã tập hợp được hai trị số của chênh lệch giữa độ cao “0” hải đồ trong khu vực và hệ độ cao nhà nước, một là -292,2 cm, hai là 3,07 mét. Tác giả lấy đó làm hai phương án PA1 và PA2.

Như vậy cho mỗi phương án chúng ta có 3 đồ thị: đường độ sâu tim luồng tháng 6/2021 thiết lập với “0” hải đồ (chú giải “2021 Hđồ”, màu xanh), đường nối các độ sâu của các vị trí T trên nền địa hình 2009 với hệ độ cao Hòn Dấu (chú giải “HD 2009”, màu cam) và đường độ sâu tim luồng tháng 6/2021 đưa về hệ độ cao Hòn Dấu (chú giải “2021“HD””, màu xám).

Trong Hình 7a là 3 đồ thị của PA1. Trong Hình 7b là 3 đồ thị tương ứng với PA2. 

Bien dong day song Hau doc luong Tran De

Kết quả

Dưới góc độ đồ thị, so với đường độ sâu tim luồng tháng 6/2021 (2021 HĐồ, màu xanh) thì đường độ sâu tim luồng (2021 “HD”, màu xám) chỉ là một đường tịnh tiến với độ lớn tịnh tiến là một hẳng số. Hằng số này là -2.92 mét (PA1) và -3,07 mét (PA2).

Nhưng về ý nghĩa vật lý thì xét đường 2021 HD (màu xám) trong tương quan với đường nối các độ sâu của các vị trí T trên nền địa hình 2009 (HD 2009, màu cam) sẽ cho thấy diễn biến, nông hơn (bồi) hay sâu hơn (xói) như thế nào và là bao nhiêu.

Bảng 2 minh họa điều này. Vị trí các điểm T trên bản đồ, xem Hình 3. 

Bien dong day song Hau doc luong Tran De

Ở mỗi vị trí T, tại ô giao điểm trong mỗi phương án có một trị số là hiệu số giữa [2021 “HD”] và [HD 2009].

Nếu trị số âm (ô màu cam) ở vị trí T đó độ sâu của đáy sông sâu hơn. Ngược lại nếu trị số dương (ô màu xanh) ở vị trí T đó độ sâu của đáy sông nông hơn.

(1) Trong cả hai phương án, có 4/12 vị trí T ở đó đáy sông sâu hơn. Đó là T7, T8, T11 và T14. Sâu hơn cả là T14 rồi đến T7.

(2) Trong cả hai phương án, tại 8/12 vị trí T còn lại đáy sông nông hơn. Mức độ nông hơn trong PA1 quan trọng hơn trong PA2. Ở vị trí T18AP mức độ nâng đáy là cao nhất, 1,38 mét (PA1) và 1,13 mét (PA2). Trong nhánh Trần Đề, vị trí ở đó đáy sông được nâng cao nhất, và bằng nhau, là T12 và T13, 1,18 mét (PA1) và 1,03 mét (PA2).

(3) Diễn biến nông hơn hay sâu hơn thể hiện trong Bảng 2 phù hợp với hình thái của nhánh Trần Đề, các khúc quanh, các ngã ba sông và các cồn mới nổi. Giá trị tăng thêm mà bài viết này mang lại, đó là xác nhận và cung cáp tri số bồi hay xói tại các vị trí T trong mỗi PA.

Nhận xét và kiến nghị

Bên cạnh biến động bề mặt (đã đề cập ở phụ chú 2) bài viết này khảo sát biến động chiều đứng.

(1) Bài viết đã xem xét hai phương án mức chênh lệch giữa “0” hải đồ tại vùng cửa sông Hậu, Định An – Trần Đề và hệ độ cao Hòn Dấu dựa trên những giá trị phỏng đoán hoặc theo kinh nghiệm. Điều này cần được khắc phục.

Việc mở luồng hàng hải Trần Đề đủ quan trọng để tiến hành tính toán cụ thể, chính xác mức chênh lệch này.

(2) Trong khi chờ đợi một đợt đo căn cơ địa hình đáy cho cả nhánh Trần Đề, mở rộng đo độ sâu ngoài khung khổ tuyến tim luồng Trần Đề ở những vùng có nhiều biến động đáng chú ý như T7 và T14 (xói sâu), và T10, T12, T13 (nâng đáy) là điều có thể làm ngay.

(3) Bài viết này mới vẽ lên một tuyến dài trong một bức tranh 12 năm sau. Khoảng thời gian 12 năm là rất dài để những kết quả nêu lên trên đây có thể xem là xu hướng.

Xin kiến nghị ngành giao thông vận tải, tự mình hoặc kết hợp với Tỉnh Sóc Trăng (phục vụ lợi ích của nhiều ngành của tỉnh) tiến hành đo địa hình đáy sông Hậu trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng, tương tự như đã làm năm 2009. Ít nhất trên nhánh Trần Đề. Tốt nhất vào cuối năm 2021 cho tròn 12 năm sau đợt đo trước.

(4) Xin nhắc lại một kiến nghị với Bộ Giao thông Vận tải, Cục Hàng hải, Tổng Công ty Bảo đảm An toàn Hàng hải: TBHH cung cấp số liệu đo định kỳ 4 đợt trong năm độ sâu của luồng Trần Đề.

Những Đề xuất và Kiến nghị trên đây là nhằm cung cấp cơ sở cho một quyết định công bố luông hàng hải Trần Đề từ phao số “0” đến phao “32”, và kết nối với luồng Định An, chặt chẽ, khách quan và phù hợp với quy luật./.

CHÚ THÍCH:

[1]: -  Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban khoa học kỹ thuật Nhà nước (1980-1992), Chủ nhiệm Chương trình khoa học nhà nước Điều tra cơ bản tổng hợp đồng bằng sông Cửu Long (1983-1990), Đại biểu Quốc hội các khóa IX, X, XI (1992-2007).

[2]: -  Nguyễn Ngọc Trân, ngày 06/08/2021, Luồng hàng hải Trần Đề: Cần khách quan, tôn trọng quy luật - DVO - Báo Đất Việt (trithuccuocsong.vn)

[3]: - Nguyễn Ngọc Trân, ngày 08/4/2021, Sông Hậu và các cửa sông Định An, Bassac và Trần Đề - DVO - Báo Đất Việt (trithuccuocsong.vn)

[4]: - Luồng Trần Đề, Tỷ lệ 1/5000 gồm 5 mảnh ghép là 5 files số dưới dạng PDF, ký hiệu từ TĐ_2106_1 đến TĐ_2106_5 do Tổng Công ty Bảo đảm Hàng hải Miền Nam ấn hành năm 2021.

[5]: - Một địa chỉ là các tác giả bài báo “Tính toán chênh lệch giữa “0” hải đồ và “0” quốc gia”, ngày 10/6/2016, Tính toán chênh lệch giữa “0” HẢI ĐỒ và “0” QUỐC GIA - World news thông tin sự kiên cập nhật 24/7

Thứ Hai, 23/08/2021 07:40

Đọc nhiều nhất
Sự Kiện