Người Việt lười từ việc nhỏ: Lỗi do quản lý xã hội!

(Tin tức thời sự) - "Lượng người như vậy, nhưng hiệu suất công việc, kết quả mang đến lợi ích XH lại rất ít, thậm chí còn là kết quả mang tính hình thức".

Một góc nhìn nhận, đánh giá khách quan của TS Nguyễn Văn Vịnh, nguyên Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Xã hội, người đã nhiều năm nghiên cứu về sự phát triển của xã hội Việt qua các giai đoạn.

Cần cù, yêu lao động là bản tính vốn có

PV:- Vừa qua, theo khảo sát của Công ty nghiên cứu thị trường GCOMM, với sự tham gia của 1.005 sinh viên, du học sinh, trí thức trẻ (18-35 tuổi) trên cả nước. Khi được hỏi về những đức tính của người Việt trong quá khứ và hiện tại, thì hầu hết đều lựa chọn đức tính cần cù, thân thiện, tỷ lệ lên tới hơn 80%. Quan điểm của ông ra sao trước kết quả này, đây có được coi là một tín hiệu đáng mừng trong nhận thức của giới trẻ?

TS Nguyễn Văn Vịnh:- Việc lựa chọn đức tính cần cù là lẽ đương nhiên, tôi không bất ngờ trước kết quả này.

Tuy nhiên, giới trẻ hiện nay đã có nhiều suy nghĩ rất khác so với  trước đây. Bởi vì, thứ nhất, với hệ thống thế giới phẳng của truyền thông, giới trẻ VN cũng có một cơ hội mở rộng tiếp xúc rất nhiều với các quốc gia và giới trẻ trên toàn TG. Do đó có điều kiện chia sẻ về giá trị tri thức, giá trị sống, vì vậy sự tiếp nhận, chia sẻ những giá trị trên chuẩn mực chung có tính phổ quát. Có thể được hiểu là cách xử sự với mọi người và thái độ với công việc.

Người Việt lười từ việc nhỏ: Công chức cắp ô không... lười?

Rất mừng là hiện nay giới trẻ nhận ra được một việc tồn tại từ lâu, đó là XH Việt là một XH tương đối đóng kín và quan phương vì những lý do chính trị. Khối lượng tri thức khoa học cần thiết trong trường phổ thông của chúng ta rất nặng, thực tế giới trẻ Việt có lượng kiến thức tương đối vững chắc, tốt, có điều hay bị ám ảnh.

Chúng ta thường tìm cách dường như mặc định, tức đưa những vấn đề chính trị, ý thức hệ vào trong giáo dục, cho nên khi tiếp xúc với giới trẻ nước ngoài hoặc các phương tiện phẳng tình hình này cũng đã có sự thay đổi rất tốt, đó là trên phương diện kết quả giáo dục.

Vì vậy, hiện nay giới trẻ có rất nhiều thay đổi từ những sinh hoạt rất nhỏ, như người Việt trước đây, đi ăn với nhau thích tranh nhau trả tiền, vì nghĩ chia tiền là không ổn, thế nhưng giờ đây giới  trẻ làm chuyện đó tự nhiên và coi đó là điều đương nhiên.

Hơn nữa, do tính thích cái mới, thích sự thay đổi, sử dụng phương tiện hiện đại rất nhanh, vì vậy hệ thống thông tin tri thức được giới trẻ sử dụng một cách triệt để ở mức bình dân.

Cái khó cho giới trẻ Việt là phải thấy do chúng ta hội nhập chưa lâu cho nên hạn chế về ngoại ngữ, khi giao tiếp với các nước, thực tế vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn chất lượng của môn ngoại ngữ rất kém, vùng thành thị thì khá hơn. Đây có thể là một trong điều kiện tiên quyết hiện nay, bắt buộc trong mọi trường hợp ít nhất phải thông thạo Tiếng Anh. So với giới trẻ ở các nước xung quanh đây thì chúng ta sẽ hạn chế hơn.

Ngay cho đến cách sống của giới trẻ hiện nay cũng có 1 vài thay đổi, những người ở mức cao tuổi, sẽ có quan điểm chặt chẽ, nghiêm khắc, khó chấp nhận, trong chuyện hôn nhân và quan hệ giới tính thì hiện nay chuyện đấy được coi là cởi mở, thậm chí tiếp thu nhanh hơn các nước khác.

Điều này không có gì xấu, chỉ có điều nếu XH vẫn bị ám ảnh bởi các truyền thống nông nghiệp tương đối nặng nề, với quy chế hơi mang màu sắc chính trị thì câu chuyện này sẽ được nhìn giống như một cái gì đó quá đà, hư hỏng, tôi không cho là như vậy. Thực tế trong hệ thống giáo dục chính trị cho giới trẻ tất cả phải đi học giáo dục giới tính, đảm bảo sức khỏe sinh sản, tôi nghĩ tất cả đã được chuẩn bị.

TS Nguyễn Văn Vịnh

TS Nguyễn Văn Vịnh

Tất cả để thấy rằng, giới trẻ hiện nay có thể nhìn nhận sự việc ở một góc độ hoàn toàn khác, cởi mở hơn, nhưng chuyện đức tính không phải cái họ quan tâm, họ chỉ để ý đến những thông tin sát sườn mình. Cho nên kết quả này không hẳn là đáng tin cậy.

Phải lưu ý các nhà điều tra XHH người Việt không có thói quen trả lời thẳng, trả lời một cách cởi mở những câu hỏi, nó gần như bản năng lúc nào cũng theo một hướng, hoặc có khi là người hỏi muốn cái gì, hoặc họ sẽ làm thế nào, nên kết quả này cần phải cân nhắc lại.

Tiêu biểu nhất, gần đây có trường hợp điều tra mức độ hài lòng về cải cách hành chính tại Thanh Hóa, rất nhiều người choáng váng vì con số quá cao so với mức họ tưởng tượng được nên kết quả tất yếu sẽ bị nghi ngờ.

PV:- Đúng như ông nhìn nhận, thực tế diễn ra hiện nay lại không như kết quả đánh giá. Con số hơn 30% số lượng công chức đang trong tình trạng sáng cắp ô đi, tối cắp ô về là một ví dụ. Thêm nữa, năm 2013 chúng ta phải chi tới 500 triệu USD để nhập khẩu hạt giống rau củ, trong khi lại là một nước nông nghiệp. Rồi cho đến những mặt hàng như may mặc, đồ dùng sinh hoạt hàng ngày đều phụ thuộc vào kinh tế Trung Quốc.

Vậy chúng ta phải hiểu nghịch lý giữa nhận thức của giới trẻ và thực tế này như thế nào? Đó là thực tế mà chúng ta buộc phải thừa nhận đúng không, thưa ông?

TS Nguyễn Văn Vịnh:- Đức tính cần cù của người Việt sẽ được bàn trên diện tương đối rộng của xã hội VN. Với dân số hơn 70% là nông thôn, mức sống gia đình Việt tương đối thấp, cho nên việc con cái, tất cả các lao động phải tham gia vào sinh kế là tất yếu. Đặc biệt là người vùng sâu, vùng xa, từ nhỏ cũng đã phải làm một số công việc có thể, tạo thành bản năng.

Thêm nữa đã là dân nông nghiệp bao giờ cũng có tập quán chăm chỉ, cần cù, trừ khi những nơi nào được thiên nhiên ưu đãi, thâm canh trồng lúa nhiều mùa, công việc sẽ chiếm nhiều thời gian, muốn lười cũng không được, từ đó tạo ra thói quen cần cù và yêu lao động.

Khi sự thay đổi của thế giới hiện đại từ sản xuất Công nghiệp hóa, các lao động đòi hỏi kỹ năng, đó có thể là trường đào tạo, trường nghề, CĐ, ĐH và đây đang là vấn đề nhức nhối nhất hiện nay.

Cho nên có những công ty đòi hỏi lao động cao nên không tuyển được người. Trong khi giới trẻ bị áp lực nặng nề từ gia đình do tập quán văn hóa, tất cả mọi người ai cũng muốn con mình vào ĐH, đây chính là dấu vết của một xã hội muốn học, đỗ đạt để làm quan, nên bố mẹ nào cũng muốn con vào ĐH.

Điều này sinh ra chuyện các trường ĐH dân lập nở rộ như nấm sau mưa. Vì vậy, các bạn trẻ học ở những trường không danh tiếng do không được chuẩn bị những kỹ năng cần thiết, do đó dẫn đến những nơi tuyển dụng công việc phải đào tạo lại từ đầu.

Còn câu chuyện vừa qua, không thể đổ lỗi cho giới trẻ mà đây là trách nhiệm của XH, thậm chí còn là của cả một cơ chế.

Phải nói hệ thống công chức của chúng ta nó nằm trong một thể chế thâm thủng, các hệ thống chính quyền là một cỗ máy nhân gấp đôi so với hệ thống hành chính của các quốc gia khác, vì vậy nên lượng công chức mới nhiều. Thực tế lượng công việc chỉ đủ cho một số người làm nhất định, nhưng cái cách ai cũng muốn trở thành công chức, thành nọ thành kia cho nên chủ trương tinh giảm biên chế càng giảm thì càng phình ra, đền giờ có làm được vấn đề đó không, các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính xác có làm được không lại là chuyện khác.

Chuyện này nó sẽ trở thành vấn đề XH rất lớn, có thể chỉ được thay đổi dần dần. Lượng người như vậy, nhưng hiệu suất công việc, kết quả mang đến lợi ích XH lại rất ít, thậm chí còn là kết quả mang tính hình thức.

Dẫn đến việc anh có làm mãi cũng thế, không làm thì cũng thế, mọi chuyện trong XH cứ rối rung hết, công chức trẻ lại còn hình thức. Hàng năm còn sinh ra thi đua bình bầu, làm mãi thì cũng lao động tiên tiến, không làm cũng lao động tiên tiến, đấy là một cái tương đối phổ biến trong thị tường lao động XH hiện nay, đặc biệt viên chức nhà nước. Cho nên những chuyện này không khỏi ảnh hưởng đến giới trẻ, bởi người ta nhìn thấy những chuyện như thế đập vào mắt, họ có thể bị ảnh hưởng.

Theo tôi giới trẻ biết nếu không có khả năng để hòa nhập dứt khoát bị tụt hậu, đẩy ra ngoài.

Không có đủ việc làm để đáp ứng nhu cầu

PV:- Có quá nhiều thay đổi đối với người Việt, cụ thể giới trẻ khi nhìn nhận, căn nguyên của tất cả những thay đổi trong hành vi của người Việt, theo ông có phải xuất phát từ quản lý vĩ mô chưa được sát sao, hợp lý hay không? Khi mà hiện nay sự lười biếng thể hiện càng rõ, từ việc nhỏ như vứt rác bừa bãi, nhập giống cây trồng, rồi phun thuốc vào cây kích thích mọc nhanh, có nghĩa đầu tư ít thời gian thu nhập lại lớn?

TS Nguyễn Văn Vịnh:- Chuyện này nó nằm trong định hướng quá lớn, nó làm cho nền sản xuất VN đi lệch hướng. Suốt ngày trồng cây gì nuôi cây gì là theo chỉ đạo, thực tế bản thân người dân biết họ trồng gì là tốt nhất, nhưng bản thân người ta lại không được trồng.

Quan niệm về nông nghiệp là một trong những lĩnh vực quá quan trọng đối với một nước nông nghiệp như VN, cho nên hệ thống chính sách hiện nay có quá nhiều chuyện bất cập.

Cách thức trồng những thứ đơn giản nhất như rau thơm, rau ăn, rõ ràng trong truyền thống tại các khu vực nào đó đều có nguồn rau, nguồn giống riêng phù hợp với thổ nhưỡng, điều kiện khí  hậu, môi trường. Thế nhưng hiện nay do phát triển không kiểm soát được của hệ thống nông nghiệp nước quá đông dân như TQ nên họ dùng phân bón, chất hóa học, chất tăng trưởng trong chăn nuôi, người nông dân không ý thức hết được, không có sự can thiệp của nhà nước.

Nhà nước không đủ việc làm cung cấp cho người dân

Nhà nước không đủ việc làm cung cấp cho người dân

Cuối cùng, lĩnh vực nông nghiệp hầu như bỏ trống, tất cả các loại tốt nhất thì đi nhập giống, chuyển đổi thành công nghệ của nước bạn, vì năng suất cao hơn, nhưng không ai biết một điều tất cả những loại giống bản địa của chúng ta có 1 số giống rất ưu việt rất phù hợp thậm chí giá trị rất cao, thế nhưng mức sống thấp nên họ đòi hỏi đi về phía năng suất.

Bên cạnh đó là vấn đề đạo đức, nhiều người nông dân trồng rau nhưng có 2 khu, 1 khu để nhà ăn, khu để bán riêng. Lĩnh vực cây công nghiệp để xuất khẩu ví dụ như chè, VN là một trong những cường quốc về chè, cà phê , một nước xuất khẩu cafe đứng trong những nước hàng đầu TG, mà cuối cùng người Việt lại được dùng bắp rang, đậu rang , cho một tí đắng, rau mùi, cafe.

Nó phản ánh thực tế XH Việt còn nhiều vấn đề, lẽ ra hệ thống quản lý cấp cao cần chú ý đến việc bình thường hơn.

PV:- Sự ỷ lại rồi xã hội nhiều thay đổi, đó có phải là nguyên nhân chính tác động đến sự thay đổi trong nhận thức của người Việt. Giống như nhận xét của doanh nhân người Nhật Ito Junichi, CEO công ty World Link Japan Inc chỉ rõ rằng người lao động Việt Nam ngày nay thích kiếm tiền nhưng lại không chăm chỉ. Khi ông mới đến Việt Nam 20 năm trước, ông thấy người Việt Nam cũng rất chăm chỉ như người Nhật. Nhưng giờ thì ông không còn cảm thấy điều đó nữa.

Có thể nhìn nhận bệnh lười của người Việt đang có xu hướng phát triển lên hay không? So với trước đây thì ra sao, ông có thể lấy ví dụ cụ thể?

TS Nguyễn Văn Vịnh:- Đây không phải bệnh lười, khi nhìn thấy một cái gì có thể tạo ra một nguồn lợi, con người ta không mấy ai bỏ qua được, bởi bản chất của người Việt là cần cù.

Chỉ có điều có quá nhiều kinh nghiệm về thất bại, trồng rau, trồng cây xong không biết bán cho ai. Miền núi thi nhau trồng mận rồi tiền thuê hái đắt hơn tiền bán, thực tế hệ thống chính sách phải có tính đồng bộ, thậm chí trồng rau sạch nhưng rau bẩn lại năng suất cao hơn, nhìn đẹp hơn, bán rẻ hơn.

Cho nên việc này không có nguyên nhân cụ thể nào mà là nguyên nhân tổng thể, thực tế phải qua tất cả những cái câu chuyện cụ thể thì mới rút dần ra kết luận. Có một điều nông dân hiện nay không còn thích làm ruộng, mà chuyển cho người khác làm để giữ đất.

Một điều nữa bị sức ép từ phía TQ, tất cả những thứ họ làm ra bằng công nghệ lạc hậu, thải loại, sau đó giống cây, nông nghiệp đều tăng trọng đều nguy hiểm. Một điều dễ hiểu là quốc gia họ đông dân số, nên họ cần có cách gì lắp đầy. Tôi không nghĩ TQ đang là một quốc gia hùng mạnh.

Chính chất thải văn hóa đó tràn đến VN, nên để giải quyết thì cần nhiều thời gian. Tôi không nghĩ tính cần cù của người Việt giảm đi, nhưng hiện nay không đủ việc cho dân làm, chỗ nào cũng thấy thất nghiệp.

Người Việt lười từ việc nhỏ: Sống lười có lợi hơn chăm?

Kỹ năng lao động cũ không phù hợp nên không ai muốn thuê, chỉ cần nhìn nhận, so sánh đơn giản: người nông dân ở quê thu nhập 1triệu đồng/tháng, ra thành phố làm xe ôm cũng có thể được 3triệu đồng/tháng. Cho nên ở đây là sự chuyển đổi của XH qua các giai đoạn mà ở các cách thức lao động và sản xuất khác nhau, những người không theo kịp cũng không thể biết họ có ngộ nhận đó là hiện tượng lười biếng hay không, nhưng tôi không nghĩ như vậy.

Thưc ra mà nói nếu như XH tạo được hết việc làm cho công dân, nếu như XH có cách quản lý rất tốt, thì đương nhiên đó là XH tốt. Bản thân chúng ta đang lúng túng, ở chỗ như người từ quê ra hội nhập, thới quen của một nước quan phương, bây giờ đi vào cách thức khác mang tính chuyên nghiệp, cũng cần thời gian làm quen.

Bây giờ không thể đòi hỏi 1 người nông dân ra bán hàng ăn ở HN, dĩ nhiên họ làm rất luộm thuộm. Một bi kịch về công việc, do sự thay đổi chưa tiến kịp nên còn phần khập khiễng chưa ăn khớp được chắc chắn sẽ diễn ra. 

PV:- Có phải vì việc làm thì không đủ đáp ứng, làm không được việc thì dẫn đến chán nản, mà hầu hết người Việt hiện nay hài lòng với việc đi làm gia công, đi làm thuê, lười làm thích ăn sẵn, theo nhận định của một số chuyên gia kinh tế. Nên dẫn đến nền kinh tế đang phụ thuộc vào khai thác tài nguyên có sẵn đem bán, thế nhưng nguồn tài nguyên cũng đang dần cạn kiệt, phải đi nhập khẩu ngược lại tiêu biểu như điện, xăng dầu, điều này sẽ dẫn tới hệ quả nào, thưa ông? Ai hay đơn vị nào sẽ chịu trách nhiệm cho tình trạng này?

TS Nguyễn Văn Vịnh:- Tôi thiết nghĩ chính xác là như vậy! Tuy nhiên về chuyện bài toán kinh tế, tôi nghĩ cần có những góc nhìn cụ thể hơn. Tôi chỉ thấy rằng, bản thân đời sống nó tự vạch đường để nó đi, mọi người sẽ phải tự điều chỉnh hành động của mình sao cho phù hợp.Tất cả sẽ phải tự tìm kiếm lấy, đấu tranh với sự sinh tồn, sinh kế, đó chính là tiến bộ xã hội.

- Xin cảm ơn TS về cuộc trò chuyện này!

Thanh Huyền

Thứ Sáu, 12/09/2014 06:41

Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện