Chết yểu vì nhiệt điện: Việt Nam đi trái chiều thế giới

(Tin tức thời sự) - Việc phát triển các nhà máy nhiệt điện than sẽ thải ra một lượng tro khổng lồ gây ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường và sức khỏe cộng đồng.

"Phương pháp xử lý tro bụi của các nhà máy nhiệt điện đều đã có, vấn đề là người ta có chịu làm hay không. Tôi lấy ví dụ, hệ thống lọc bụi tĩnh điện có hiệu suất lọc bụi cao tới 99,9% thế nhưng giá thành của hệ thống này rất đắt đỏ.

Theo tính toán, một nhà máy nhiệt điện có mức đầu tư 1,5 tỷ USD thì bộ lọc bụi tĩnh điện đã chiếm khoảng 30% (450 triệu USD). Bởi thế, các nhà máy nhiệt điện chạy hệ thống này cũng nhiều nhưng vào ban đêm họ lại đóng lại, không lọc nữa mà để xả tro bụi ra ngoài không khí.

Ngay cả vấn đề tro xỉ của nhà máy nhiệt điện, theo ông Sính, dù thế nào vẫn phải đưa ra bãi chứa. Theo quy định, chủ đầu tư các nhà máy nhiệt điện than phải lắp đặt hệ thống xử lý tro xỉ, nếu chủ đầu tư không làm thì phải bỏ tiền để địa phương xử lý, mà những chi phí đó sẽ tính vào giá điện, đẩy giá điện lên cao.

Do phải bỏ tiền nên chủ đầu tư nhà máy nhiệt điện chưa làm, các bộ ngành cũng chưa làm. Mục tiêu của chủ đầu tư bao giờ cũng là thu được nhiều lợi nhuận với chi phí thấp nhất nên cắt được phần nào cứ cắt. Vấn đề chính là ở chỗ cơ quan quản lý đã nương nhẹ, không quyết liệt trong việc xử lý", ông Sính bày tỏ.

Một vấn đề khác liên quan đến nhiệt điện than khiến ông Trần Đình Sính trăn trở, đó là an ninh năng lượng của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng bởi việc đặt trọng tâm quá lớn (hơn 1/2 cơ cấu nguồn điện) vào nhiệt điện đốt than.

Trong khi dự báo của giới chuyên gia đưa ra cho thấy, than nội địa phục vụ cho việc phát điện sẽ không thể đáp ứng đủ trong thời gian tới và Việt Nam sẽ phải nhập khẩu khối lượng than rất lớn (46,7 triệu tấn than năm 2020 và 2030 phải nhập 157 triệu tấn than mỗi năm).

Tuy nhiên việc nhập than với số lượng lớn theo hợp đồng dài hạn là một vấn đề không đơn giản, chưa kể tới sự phụ thuộc vào biến động giá trên thị trường quốc tế.

"Hệ thống năng lượng giống như mạch máu, nếu nhập hết của nước ngoài thì không an toàn. Hơn nữa, Việt Nam nhập than đâu có dễ. Việt Nam có thể nhập với giá cao nhưng về lâu dài sẽ không thể chịu nổi, lại không chủ động.

Nhiều nước như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc... đã đẩy mạnh việc nhập khẩu than từ lâu bằng cách mua quyền khai thác mỏ ở Úc, Indonesia, rồi họ đưa nhân công, máy móc sang, tổ chức khai thác, làm đường vận chuyển chở  than về nước. Những cái đó Việt Nam chưa có kinh nghiệm thì làm sao làm được!

Cứ thử tính, Việt Nam phải nhập 157 triệu tấn than/năm, trung bình mỗi ngày nửa triệu tấn, chúng ta có sà lan 100 tấn, vậy cần bao nhiêu sà lan? Giả sử có xung đột hay chiến tranh thì sao? Tóm lại, việc nhập khẩu của Việt Nam vô cùng khó khăn".

Phó giám đốc GreenID cũng chỉ ra rằng, lâu nay người ta cứ nghĩ làm nhiệt điện than là rẻ nhưng nếu tính cả ô nhiễm, số người chết... vào thì thực chất nó không còn rẻ nữa.

"Theo tính toán chưa đầy đủ của chúng tôi, nếu tính các chi phí vào, nếu làm nhiệt điện than, giá điện sẽ lên 10 cent/kWh, mà với giá này thì điện mặt trời có thể đánh bại ngay".

Bởi thế, ông Trần Đình Sính một lần nữa nhắc lại yêu cầu khẩn thiết rằng, phải giảm nhiệt điện than xuống mức thấp nhất có thể bằng cách nghiên cứu, đưa vào sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo như điện gió, năng lượng mặt trời, điện sinh khối..., đồng thời sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả.

Đến năm 2030, Quy hoạch điện VII cần cân nhắc giảm ít nhất 30.000MW nhiệt điện than trên cơ sở đầu tư vào sử dụng tiết kiệm và tính toán lại nhu cầu.

Thành Luân

Thứ Ba, 06/10/2015 07:24

Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện