Thượng tướng Nguyễn Hữu An, Vị tướng có ba chữ 'Trung'

(Chính trị - Xã hội) - Thượng tướng Nguyễn Hữu An.(ĐVO) 40 năm tiếp theo (1955-1995) đã trải qua khắp các chiến trường từ Tây Nguyên, Nam bộ... đến biên giới phía Bắc, ông là “một trong những tướng lĩnh ưu tú có phẩm chất và tài năng của Quân đội Nhân dân Việt Nam anh hùng” (Thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi Lễ tưởng niệm 5 năm ngày mất của Thượng tướng Nguyễn Hữu An).Từ chiến sĩ đến trung đoàn trưởngÔng sinh tháng 10/1926 trong một gia đình có truyền thống yêu nước, xã Trưởng Yên, huyện Gia Viễn (nay là huyện Hoa Lư), tỉnh Ninh Bình. Cách mạng tháng Tám 1945 dâng lên niềm tự hào vô biên cho thế hệ trẻ, Nguyễn Hữu An cùng bạn bè hiến dâng tất cả cho đất nước. Ngay từ lúc niên thiếu, năm 1941, anh đã xa quê hương, lên tận miền núi để sinh sống. Anh gia nhập Giải phóng quân Yên Bái tháng 8/1945.Suốt Kháng chiến chống Pháp, người chiến sĩ, cán bộ Nguyễn Hữu An đã trải qua nhiều trận đánh, các chiến dịch lớn, từ chiến dịch Biên giới, Hòa Bình, Thượng Lào... đến chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.Kỷ niệm miền núi Tây Bắc, Việt Bắc

Trung tướng lục quân Mỹ Harold G.Moore từng tham chiến ở Việt Nam.

Năm 1965 lực lượng do ông chỉ huy đã đụng độ các lực lượng của tướng Nguyễn Hữu An tại Ia Đrăng.

Năm 1991 và 1993 khi đã về hưu, Tướng Moore trở lại thăm Việt Nam, gặp Thượng tướng Nguyễn Hữu An. Khi đó, Tướng Moore bày tỏ sự khâm phục những người chỉ huy và chiến sĩ Việt Nam.

Năm 1996, tướng H.G.Moore trở lại Việt Nam, khi đó, Tướng Nguyễn Hữu An đã mất. Được tin, Tướng Moore đã đến thăm gia đình, thắp hương trước bàn thờ Thượng tướng Nguyễn Hữu An.

Chỉ huy quân đoàn 2, cắm cờ Dinh Độc Lập

Sau giải phóng Điện Biên Phủ 1954, trung đoàn trưởng Nguyễn Hữu An công tác liên tục ở Tây Bắc từ 1955-1964, tham mưu phó sư đoàn 316, tham mưu phó Quân khu Tây Bắc. 1964-1967 phó tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên, sư đoàn trưởng các sư đoàn 6 và 1, từ 1968-1974 tham mưu trưởng Quân khu hữu ngạn, sư đoàn trưởng sư đoàn 308, phó tư lệnh các mặt trận 31, đường 9 và Quân khu Tư Thiên. Năm 1975-1979 tư lệnh Quân đoàn 2, tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh. Quân đoàn 2 có lực lượng đã cắm cờ dinh Độc Lập ngày 30/4/1975.Đại tá Bùi Văn Tùng, nguyên Chính ủy lữ đoàn xe tăng 203 của Quân đoàn 2 bồi hồi nhớ lại lời tư lệnh quân đoàn 2 Nguyễn Hữu An giao nhiệm vụ cho lữ đoàn tấn công trong hành tiễn: “... dùng hỏa lực mạnh của xe tăng, nhiệm vụ chủ yếu trước mắt là dinh Độc Lập nơi làm việc của Tổng thống ngụy, nhiệm vụ tiếp theo là nếu bộ máy chính quyền này rút chạy thì truy kích tiếp theo...” và “anh không những góp phần quan trọng để lữ đoàn xe tăng chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ mà còn rút ra một kinh nghiệm thực tiễn đối với binh chủng xe tăng thiết giáp để tổ chức huấn luyện,một trong những hình thức đó là: tận dụng hỏa lực mạnh, vỏ thép dày và tính cơ động của xe tăng, phối thuộc chiến đấu với bộ binh, lấy xe tăng làm chủ tấn công trong hành tiễn, sẵn sàng đáp ưng yêu cầu của chiến tranh nếu xảy ra với quy mô lớn”.Trở lại Tây Bắc

1984-1987 ông chỉ huy quân khu 2, bảo vệ biên cương hướng Tây Bắc của Tổ quốc. Ông được đánh giá là một cán bộ chỉ huy có đầy đủ ba đức tính dũng cảm, mưu trí, gần gũi đồng chí đồng đội. Tây Bắc là chiến trường gian khổ xưa nay. Ở quân khu 2, những thời khắc nóng bỏng nhất, những nơi ác liệt nhất, ông đến hầu hết các đại đổi trên tuyến 1. Trước khi về quân khu 2, ông là phó tổng thanh tra quân đội, đã nhiều lần xuống tận chiến hào, sống với chiến sĩ ở vách đá tai mèo, nghe tiếng pháo cối suốt ngày dêm.Chiến trường Tây Bắc còn làm ông nhớ lại năm 1971, bọn phản động Lào lấn chiếm vùng giải phóng của Pathét Lào, ông đã có mặt trong bộ chỉ huy chiến dịch phòng ngự với phân vùng Cánh đồng Chum, góp sức cùng các lực lượng quân tình nguyện Việt Nam và bộ đội Pathet Lào đánh bại quân địch, giữ vững vùng giải phóng.Hàng trăm cán bộ có kinh nghiệm chiến đấu đến nơi nóng bỏng nhất, nhiều đơn vị tinh nhuệ được vào tham gia chiến đấu... nhưng kết quả chưa cao. Ông đã suy nghĩ, hội ý với bộ chỉ huy quân khu, mặt trận, đánh thông mặt trận tư tưởng, tìm ra cách đánh. Đó là “đánh một điểm nhỏ thích hợp, nhưng đánh phải thắng và thắng rồi phải giữ được lâu dài”. Ông đã đích thân làm mẫu từng động tác vận động chiếm, yểm trợ lẫn nhau, truyền kinh nghiệm, xây dựng quyết tâm chiến đấu cho đơn vị. Biên giới đã được giữ vững.Từ chiến trường tới giảng đường

Từ 1988-1991 ông là giám đốc Học viện Lục quân và từ 1991-1995 là giám đốc Học viện cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng).Kinh nghiệm tích lũy trong chiến tranh và trong thời bình bảo vệ biên giới đã được ông tổng kết, giảng dạy, truyền cho thế hệ sau. “Vị tướng trận mạc” (lời Đại tướng Võ Nguyên Giáp) giờ đây có thời gian rút ra những bài học cho chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước, những bài học đã trở thành “những kho báu vô giá”.Ngay từ năm 1986, khi được trên chỉ định là Chủ tịch Hội đồng thi của Học viện Lục quân, ông đã thể hiện tầm nhìn của một nhà giáo dục. Đấy là trân trọng tính sáng tạo. Tính sáng tạo của học viên có được từ kinh nghiệm chiến đấu, quản lý, từ việc học tập suốt đời, từ truyền thống hiếu học và đánh giặc của dân tộc. Khi trở thành người đứng đầu hai Học viện lớn của quân đội, ông đã cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.Học viện quân sự cấp cao (nay thuộc Học viện Quốc phòng) được thành lập ngày 21/12/1977, nhiệm vụ đào tạo, bổ túc cho cán bộ cao cấp không chỉ trong toàn quân mà còn trong toàn quốc. Một trong những yêu cầu bức thiết được đặt ra bên cạnh đào tạo cán bộ quân đội thì không kém là bồi dưỡng kiến thức quốc phòng-an ninh cho cán bộ chủ chốt cấp tỉnh, thành và ban ngành trung ương. Chính vì thế mà ngày 20/12/1994, Chính phủ ban hành nghị định thành lập Học viện Quốc phòng trên cơ sở Học viện quân sự cấp cao, dựa trên tờ trình ngày 12/5/1993 của Học viện quân sự cấp cao lên Đảng ủy quân sự trung ương trong đó rất quan trọng là bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ Đảng, dân, chính. Thượng tướng Nguyễn Hữu An đã cùng Ban giám đốc Học viện xây dựng và triển khai quyết định có tầm chiến lược này. Năm 1987, Học viện triển khai đào tạo sau đại học. Năm 1991, ông chỉ đạo mở các lớp cao học, xây dựng đội ngũ giảng viên cho những năm tới. Trong vòng hơn 3 năm, ông đã triển khai, thực hiện những vấn đề rất cơ bản, soi sáng con đường đi của Học viện cả về cơ sở vật chất hiện đại lẫn sức mạnh tinh thần của tri thức.Vẫn còn đó rất nhiều đề tài khoa học do ông viết và chủ trì tổng kết mang tính thời sự. Trong cuốn sách “Chiến trường mới” ông đặt ra câu hỏi: “Đánh Mỹ như thế nào” gắn với chiến dịch Plâyme. Đề tài “Tại sao ta từ tấn công lại phải chuyển sang phản công” gắn với thực tiễn chiến trường Quảng Trị. Đề tài “Chiến đấu trong hành tiến” phản ánh cuộc hành quân từ 5/4 – 11h30 ngày 30/4/1975. Còn rất nhiều người được ông hướng dẫn làm luận văn khoa học.

Đề tựa cho cuốn sách “Chiến trường mới” của Thượng tướng Nguyễn Hữu An, Đại tướng Chu Huy Mân viết: Thân ái tặng đồng chí Nguyễn Hữu An “ba chữ trung”.

Trung thành với lý tưởng... chăm lo đoàn kết, gắn bó với nhân dân các dân tộc, không ngừng nâng cao chí tiến thủ, vừa làm vừa học, vừa chiến đấu vừa rèn luyện, nghiêm túc với các hiện tượng cơ hội.

Trung thực với Đảng, với tổ chức, đồng chí đồng đội, nhân dân. Trong chiến đấu, không bao giờ chấp nhận nói nhiều làm ít hoặc nói không làm, thoái thác trước những thử thách ác liệt.

Trung kiên trong chiến đấu chống kẻ thù xâm lược, chống những hiện tượng dao động cầu an, đạt lợi ích cá nhân, gia đình lên trên lợi ích tập thể, Tổ quốc và nhân dân.

>> 

Chuyên đề : Tướng lĩnh QĐND Việt Nam

Thứ Sáu, 17/08/2012 10:30

Sự Kiện